SỐ LƯỢT TRUY CẬP

9
4
3
5
0
6
6
Chuyên đề Thứ Sáu, 21/05/2010, 16:33

KỸ THUẬT NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG

1. Xây dựng ao:

    - Ao nuôi nên đặt gần nguồn nước đế cấp và thoát dễ dàng.

    - Vùng đất ít bị nhiễm phèn.

    - Gần nhà để dễ quản lý và chăm sóc.

    - Diện tích ao thích hợp từ 200-500m2, sâu 1,2-1,5m

2. Cải tạo ao:

    - Sên vét bùn đáy, lấp kín hang hốc, lỗ mọi.

    - Rào lưới xung quanh bờ ao, phòng tránh cá thoát ra ngoài.

    - Bón vôi bung CaO từ 7-10kg/100m2 để nâng pH đất, diệt tạp và mầm bệnh.

    - Diệt cá dữ bằng dây thuốc cá với liều lượng 1kg/70m3 nước. Sau đó lấy nước vào qua túi lọc bằng vải KT.

    - Kiểm tra pH, khi pH đạt 7-8 thì tiến hành bón phân gây màu bằng:

        + Phân vô cơ: DAP + Urê (tỉ lệ 1:1) với liều lượng 2kg/1.000m2

        + Phân hữu cơ: phân chuồng đã ủ hoai (với 2-3% vôi CaO) liều lượng 80 kg/100m2

    Sau khi bón phân khoảng 5-7 ngày thấy nước có màu xanh đọt chuối non (độ trong 40-50cm) thì tiến hành thả giống.

3. Thả giống:

    Chọn cá khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, bơi lội linh hoạt, cơ thể không xây xát. Cá giống cỡ 10-12 con/kg, thả mật độ từ  2-3 con/m2.

    Nên thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Cá mới mua về trước khi thả cần tắm qua dung dịch muối có nồng độ 2% trong thời gian 5-10 phút để loại trừ kí sinh và sát trùng vết thương do xay xát trong quá trình đánh bắt và vận chuyển.

4. Chăm sóc và quản lý:

    - Thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tươi sống (tôm, tép, cá, thịt, ốc, hến…) được cắt nhỏ để cho cá dễ ăn (thức ăn cần được rửa sạch).

    - Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (6-7h) và chiều mát (18-19h), lượng thức ăn mỗi ngày bằng 3-5% tổng trọng lượng đàn cá trong ao.

    - Dụng cụ cho cá ăn là sàng tre đan thưa, nhẵn hoặc bằng sàng lưới cước được đặt cách mặt nước 40-50cm.

    - Sau khi cho cá ăn khoảng 30phút đến 1giờ kiểm tra lại sàng ăn để xem khả năng cá ăn mồi, qua đó điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp ở lần kế tiếp.

    - Phải chà rửa sàng ăn mỗi ngày để tránh nấm, sinh vật ký sinh, vi khuẩn bám có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của cá.

    - Thường xuyên kiểm tra bờ, cống, chống rò rĩ và mưa tràn bờ thất thoát cá. Cần kiểm tra pH của ao nhất là sau những trận mưa lớn.

    - Hàng ngày thăm ao vào lúc sáng sớm quan sát hoạt động của cá và kiểm tra môi trường nước để có biện pháp xử lý kịp thời.

    - Thường xuyên thay nước mới để đảm bảo nước tốt. Lượng nước thay khoảng 20% lượng nước có trong ao.

5. Phòng bệnh

    Định kỳ 10 ngày dùng vôi bột với liều lượng 5g/m3 hòa nước tạt để ngừa bệnh cho cá.

    Thường xuyên bổ sung vitamine C để tăng sức đề kháng cho cá và định kỳ trộn tỏi vào thức ăn với liều lượng 4-5g/kg thức ăn để phòng bệnh đường ruột cho cá.

MỘT SỐ BỆNH PHỔ BIẾN THƯỜNG GẶP Ở CÁ BỐNG TƯỢNG

    1. Bệnh ngoại ký sinh:

        - Nguyên nhân và triệu chứng: Bệnh do các sinh vật rất nhỏ bám vào mang, da của cá để hút máu hoặc chất dinh dưỡng gây nên những vết thương, xuất huyết. Khi bị bệnh màu sắc cá trở nên nhợt nhạt, cá thích tập trung ở nơi có đường nước chảy vào. Bệnh xuất hiện khi mật độ nuôi dầy, điều kiện vệ sinh kém, mưa kéo dài, thời tiết lạnh.

        - Phòng trị bệnh:

            + Phòng: thả nuôi mật độ vừa phải, tránh để ao bị ô nhiễm.

            + Trị: dùng formol tạt xuống ao với nồng độ 20-25ml/m3.

    2/- Bệnh đốm đỏ

        - Nguyên nhân và triệu chứng: do vi trùng Pseudomonas punotata (sơ-đô-mô-nát bun-nô-ta-ta) hay Aeromonas hydrophila (Ê-rô-mô-nát hy-rô-phi-la). Thân và vùng bụng bị xuất huyết, vảy dựng lên, các gốc vây xuất huyết và ứ nước vàng. Bụng cá trương to, chứa dịch và đỏ bầm. Ở một số cá bệnh mắt, hậu môn lồi ra, một số vây cá bị rách xơ xác dần dần bị rụng, bên trong thịt ứ máu và mủ. Cá lội lờ đờ, chậm chạp, ít ăn hoặc bỏ ăn.

        - Cách phòng: không nuôi mật độ quá dày, cho ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng, môi trường ao nuôi luôn giữ ổn định và sạch sẽ. Định kỳ 15 ngày tạt vôi bột CaCO3 với lượng 1-2kg/100m3 (vôi hoà tan trong nước tạt đều khắp ao).

        - Trị bệnh: Sử dụng kháng sinh Neomycine (Nê-ô-mi-xin) 4g/100kg cá bệnh và Vitamine C 3g/100kg cá bệnh, thuốc được trộn vào thức ăn, cho ăn liên tục từ  5-7 ngày.

    3/- Bệnh nấm thuỷ mi

        - Triệu chứng: khi nấm mới ký sinh, mắt thường khó nhìn thấy, phần cuối của sợi nấm đâm sâu vào thịt cá, phần đầu sợi nấm lơ lửng trong nước. Khi bệnh phát triển nhiều trên thân cá xuất hiện những đám bông màu trắng. Cá có cảm giác ngứa ngáy, thân cá gầy, đen sẫm. Nấm ngày càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập làm bệnh nặng thêm.

        - Phòng bệnh: tạo điều kiện sống thuận lợi cho cá, nhất là vào những lúc trời lạnh, giữ môi trường trong sạch, không để cá bị suy dinh dưỡng (thiếu ăn), không nuôi mật độ quá dầy hoặc làm cá bị xây xát.

        - Trị bệnh:  Dùng thuốc tím (KMnO4) tạt xuống ao liều 3-5g/m3 nước, hoặc dùng dung dịch muối ăn 3% tắm cá trong 15 phút.

    4/- Bệnh lở loét (Hội chứng lở loét)

        - Nguyên nhân: do nhiều nguyên nhân kết hợp như siêu vi (virus), vi khuẩn, nấm thuỷ mi, nấm nội Aphanomyces (A-pha-nô-mi-sét),  giáp xác ký sinh, môi trường nước quá dơ bẩn , nhiệt độ thay đổi …

        - Triệu chứng: Cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động lờ đờ, bơi nhô đầu lên mặt nước, da cá nhợt nhạt và xuất hiện các vết loét dần dần lan rộng có thể ăn sâu đến xương. Cơ quan nội tạng hầu như không bị thương tổn.

        - Phòng và trị bệnh:

            + Phòng bệnh: Luôn giữ môi trường sạch, định kỳ dùng vôi bột, các hoá chất xử lý đáy ao. Khi trong khu vực xảy ra dịch bệnh cần hạn chế thay nước hoặc nước phải được khử trùng trước khi đưa vào ao nuôi.

            + Trị bệnh: Dùng thuốc tím 3g/m3 kết hợp với muối ăn 0,3kg/m3 tạt xuống ao. Đồng thời trộn kháng sinh cho ăn liên tục từ 5-7 ngày với liều Oxytetracyline (Ô- xy-tê-tra-xi-lin) 2g/kg thức ăn, bổ sung vitamin C 3g/kg thức ăn.

    5/- Bệnh mất nhớt

        - Nguyên nhân và triệu chứng bệnh: dễ xuất hiện khi cá bị xây xát, bị sốc do đánh bắt vận chuyển hoặc do môi trường thay đổi đột ngột. Khi bị bệnh khắp da cá có một lớp nhớt dày bao phủ. Cá tách đàn, bơi lội yếu ớt. Cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Trên thân từng vùng bị trắng. Bệnh nặng xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ là cơ hội để nấm và ngoại ký sinh phát triển. Bệnh nặng cá chết chìm xuống đáy ao.

        - Phòng bệnh: Tránh các yếu tố gây sốc cho cá, định kỳ hoặc trước những cơn mưa to tạt vôi bột CaCO3 với liều 1-2kg/100m3 vào ao nuôi.

        - Trị bệnh: dùng formol 25ml cho 1m3 nước, ngâm cá để diệt nấm và ngoại ký sinh, sau 24 giờ thay 1/2 nước rồi dùng lặp lại thuốc với liều trên một lần nữa. Phối hợp trộn kháng sinh Rifamycin vào thức ăn với liều 4viên/100kg cá bệnh, dùng liên tục từ 5-7 ngày.

KS. Nguyễn Thị Thy Nga

Theo Khuyến ngư Kiên Giang (http://thuysan.kiengiang.gov.vn)


Số lượt người xem: 1758 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày