Nông nghiệp Việt Nam nói chung, nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Bạc Liêu nói riêng đã góp phần xứng đáng vào sự phát triển kinh tế của đất nước, tạo tiền đề cho quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước ta. Một số thành tựu nổi bật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn là: đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu trở thành một nước liên tục nhiều năm đứng hàng thứ 2 về xuất khẩu gạo của thế giới và cũng là một trong những nước có sản lượng xuất khẩu tiêu, cà phê, cao su, hàng thủy sản như tôm sú, cá da trơn vv...khá lớn của thế giới. Công tác xóa đói giảm nghèo thu được nhiều thành tựu to lớn, được dư luận thế giới và nhiều quốc gia khác khen ngợi và đến tìm hiểu học tập kinh nghiệm vv...
Đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn Bạc Liêu cũng thu được nhiều thành tựu nổi bật. Trong những năm gần đây, cũng như các tỉnh khác, tỉnh Bạc Liêu đã phát động phong trào xây dựng cánh đồng có doanh thu 50 triệu đồng /ha/năm và hộ có thu nhập 50 triệu đồng /hộ/năm; trong đó chủ yếu là những cánh đồng đa canh trên đất lúa như: 3 vụ lúa chất lượng cao, Lúa – Dưa hấu, Lúa – Bầu, bí và rau ăn lá; Lúa – Tôm – Cá. Số hộ sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ 50 triệu đồng /hộ/năm; chủ yếu là những hộ sản xuất theo mô hình: VAC, nuôi heo, bò, động vật hoang dã theo hướng trang trại; nuôi cá Bống Tượng, nuôi cá Chình; hay mô hình Nông – Lâm - Ngư kết hợp như Rừng – Tôm – Cua; hoặc sản xuất lúa chất lượng cao kết hợp kinh doanh dịch vụ tổng hợp như bán vật tư nông nghiệp, dịch vụ làm đất, gặt, suốt, sấy lúa vv…
Trong hơn 10 năm qua lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn của tỉnh đã có bước phát triển khá, nhất là phát triển về bề sâu( năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn trước), đời sống đại bộ phận nhân dân được nâng lên một bước đáng kể, kết cấu hạ tầng phát triển nhanh chóng và bộ mặt nông thôn ngày thêm khởi sắc.
Nhìn lại trạng đường hơn 10 năm qua chúng ta thấy sự phát triển của ngành Nông Nghiệp – PTNT từ khi tái lập tỉnh đến nay đã chia ra làm 2 giai đoạn với những yêu cầu và đặc điểm rất khác biệt; cụ thể từ năm 1997 – 2000 nhiệm vụ chính là triển khai thực hiện thành công chủ trương ngọt hóa vùng Bắc Quốc Lộ IA, còn từ năm 2001 – 2007 là thực hiện chủ trương chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản ở cả 2 vùng sinh thái và phát triển nông thôn toàn diện, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Năm 1997 diện tích canh tác lúa chỉ có 117.000ha, diện tích gieo trồng lúa 150.000ha, sản lượng lúa chỉ có 580.000 tấn; nhưng đến năm 2000, diện tích canh tác lúa đã đạt trên 140.000ha, diện tích canh tác lúa đạt sắp sỉ 200.000ha và sản lượng lương thực đạt gần 1 triệu tấn. Còn từ năm 2001 đến nay thành tựu nổi bật nhất là chuyển đổi sản xuất khá thành công 60.903 ha đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả qua nuôi trồng thủy sản( trong đó chuyên tôm 38.902ha, tôm – lúa: 22.000ha). Năng suất lúa năm 1997 chỉ đạt bình quân khoảng 4,0 tấn/ha, đã tăng lên nhanh chóng vào năm 2006( lúa Hè Thu 4,5 - 4,8 tấn/ha, lúa Đông Xuân đạt 5,5 – 6,0 tấn/ha, lúa mùa cao sản đạt 6 – 7 tấn/ha). Quan trọng nhất là mặc dù chuyển đổi với diện tích lúa lớn như vậy, nhưng Bạc Liêu không những vẫn đảm bảo an ninh lương thực mà vẫn còn đủ lương thực hàng hóa chất lượng cao để tham gia thị trường xuất khẩu. Bình quân lương thực tính trên đầu người vẫn đạt 710kg/người/năm. Lúa chất lượng cao ngày càng được nhân dân quan tâm sản xuất( trên 54% diện tích gieo trồng lúa và chiếm trên 60% sản lượng lúa). Đàn heo mặc dù bị dịch Lở Mồm Long Móng hoành hành trên diện rộng, nhưng vẫn tăng từ 170.000 con năm 1997, lên 240.000 con năm 2006. Nhiều mô hình đa canh trên nền đất lúa và nhiều mô hình sản xuất tổng hợp có hiệu quả cao và bền vững xuất hiện ở khắp các tiểu vùng sinh thái của tỉnh. Điển hình như: Lúa – Màu, Lúa – Cá, Lúa – Tôm, Tôm – Cua – Cá, Rừng – Tôm – Cua, Muối – Cá kèo, VACB vv….Nhiều mô hình đã cho doanh thu từ 30 - 50 triệu đồng/ha/năm và lợi nhuận đạt từ 15 – 25 triệu/ha/năm.
Công tác chuyển giao TBKT nói chung và khuyến nông nói riêng có bước chuyển biến tích cực; nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất( trong đó có 54% diện tích lúa chất lượng cao và 45% diện tích rau màu, 25% diện tích cây ăn trái, 80% tổng đàn heo, 80% tổng đàn vịt, 5% tổng đàn gà đã được sử dụng giống mới cao sản). Trong đó nổi bật nhất là chương trình"3 GIẢM, 3 TĂNG" trong sản xuất lúa đã tăng lợi nhuận cho người trồng lúa trên 1 triệu đồng/ha/vụ, chương trình sản xuất lúa chất lượng cao, chương trình giống cây trồng, vật nuôi; chuơng trình áp dụng công nghệ sau thu hoạch trong sản xuất lúa; chương trình sử dụng phân bón và thuốc BVTV vi sinh, chương trình sử dụng túi ủ Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi vv.. không chỉ làm tăng hiệu quả sản xuất mà còn bảo vệ hệ sinh thái môi trường. Chương trình nạc hóa đàn heo ngày càng được đầy mạnh, trong đó heo ngoại và heo lai đã đạt trên 80% tổng đàn.. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được nâng lên một buớc, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh.
Trong lĩnh vực thủy lợi đã thực hiện chủ trương phục vụ đa mục tiêu, nhất là gắn thủy lợi với giao thông nông thôn, lối liền các ấp với nhau, với trung tâm xã và huyện, thị; đồng thời gắn với bố trí lại khu dân cư, kèm theo là điện và nước sinh hoạt phục vụ cộng đồng dân cư, nhất là góp phần cho việc giao lưu văn hóa, chuyển giao KHKT cho các tầng lớp dân cư được thuận tiện, nhất là vùng sâu vùng xa; với số tiền vốn hàng ngàn tỷ đồng và hàng triệu ngày công lao động của nhân dân. Trong việc nghiên cứu và chuyển giao TBKT lĩnh vực thủy lợi cũng đã áp dụng công nghệ cao cừ bê tông cốt thép dự ứng lực trong xây dựng đập Ninh Quới, kè chống xói lở cửa biển Gành Hào; sử dụng đập xà lan di động bê tông cốt thép xây dựng đập Phước Long; sử dụng Composit và Inox làm cánh cửa ngăn nước trong các công trình đập nước nhằm chống ăn mòn trong môi trường nước mặn; sử dụng cấu kiện bê tông đúc sẵn tự chèn Tsc - 178 để phá sóng trong công trình kè chống xói lở cửa biển Gành Hào. Các công trình thủy lợi đáp ứng nhu cầu nước ngọt cho trên 40% diện tích sản xuất lúa năm 1997, đã tăng lên 75 - 85% diện tích sản xuất lúa vào năm 2006.
Trong lĩnh vực nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn cũng đã từng bước đa dạng hóa công nghệ cấp nước sinh hoạt từ giếng nhỏ lên cấp nuớc tập trung có xử lý chất lượng nước và bơm dẫn vào từng hộ gia đình; cải tiến qui trình khoan lắp đặt giếng nước tập trung; quan trắc mực nước tĩnh và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng tụt mực nước ngầm. Tỉ lệ hộ nông dân được sử dụng nước giếng khoan đã tăng, năm 1997 chỉ chiếm tỷ lệ 46 %; năm 2006 đã tăng lên 85%; tỷ lệ số hộ có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn và hộ có chuồng trại chăn nuôi được xử lý chất thải đều tăng khoảng 30% so với năm 1997.
Sản xuất muối của tỉnh cũng đang chuyển dần từ sản xuất muối đen sang sản xuất muối trắng chất lượng cao theo qui trình mới; đặc biệt sản xuất muối kết hợp nuôi trồng thủy sản như Muối – Tôm, Muối – Cá kèo đã chiếm 92% diện tích sản xuất muối, góp phần tăng hiệu quả sản xuất cho diêm dân; giảm áp lực chuyển từ sản xuất muối qua nuôi tôm.
Về lĩnh vực lâm nghiệp cũng có bước chuyển biến tích cực. Đã duy trì đảm bảo độ che phủ của rừng tự nhiên và cây xanh đạt trên 10% tổng diện tích đất tự nhiên, mỗi năm trồng hàng triệu cây phân tán và trên 100 ha rừng tập trung; đặc biệt là bảo vệ được vành đai rừng phòng hộ ven Biển Đông . Duy trì, bảo vệ tốt được hệ sinh thái vườn chim Bạc Liêu, mặc dù dịch cúm gia cầm luôn đe dọa những loài chim hoang dã; trong đó tại đây có nhiều loài chim quí hiếm được ghi trong" Sách Đỏ", tạo tiền đề cho việc bảo tồn và xây dựng khu du lịch sinh thái của tỉnh trong tương lai.
Từ những thành tựu trên đã góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn Bạc Liêu một cách toàn diện, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh, tỉ lệ hộ nghèo giảm đi nhanh chóng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố, tệ nạn xã hội được đẩy lùi, cảnh quan đô thị và bộ mặt nông thôn ngày càng thêm văn minh, hiện đại. Đó là tiền đề cho tỉnh Bạc Liêu thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH trong những năm tới.
Sở dĩ đạt được những thành tựu trên trước hết phải ghi nhận sự cần cù, sáng tạo, vượt qua khó khăn trong sản xuất và đời sống của bà con nông dân, đồng thời có sự đóng góp tích cực trong chỉ đạo điều hành của các cấp ủy Đảng và chính quyền và đòan thể, các ngành chuyên môn; trong đó có sự đóng góp đáng kể của lực lượng cán bộ khoa học trong và ngoài tỉnh.
Tuy nhiên hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO), ngành Nông Nghiệp – PTNT Việt Nam nói chung, ngành Nông Nghiệp - PTNT Bạc Liêu nói riêng cũng đang và sẽ có những thuận lợi, thời cơ; cũng như đan xen những khó khăn thách thức cần phải đánh giá đúng để vừa khai thác, phát huy những tiềm năng, lợi thế của tỉnh; vừa khắc phục những khó khăn, thách thức để hội nhập có hiệu quả.
- Về mặt thuận lợi: Trước hết Bạc Liêu có hệ sinh thái đa dạng như: sinh thái biển, sinh thái rừng ngập mặn ven biển với 56 km bờ biển, có vùng mặn với diện tích nuôi tôm công nghiệp lớn nhất cả nước, có vùng ngọt ổn định có thể canh tác 2 – 3 vụ lúa chất lượng cao, lại có vùng ngọt vào mùa mưa, nhưng mặn vào mùa khô vừa có thể trồng lúa, vừa nuôi tôm theo mô hình Tôm – Lúa; lại có vùng đất cát giồng ven biển nổi tiếng về trồng nhãn và rau màu. Chính vì vậy, nông sản hàng hóa của Bạc Liêu khá đa dạng về chủng loại. Đặc biệt Bạc Liêu ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai như: lũ lụt, hạn hán và bão. Thành phần dân cư gần 90% là người kinh, khoảng 4% người Hoa, chỉ có khoảng 6% là người đồng bào dân tộc Khmer; 3 đân tộc đoàn kết cùng chung sức xây dựng quê hương.
- Về mặt khó khăn: khó khăn lớn nhất hiện nay của Bạc Liêu là xa các khu công nghiệp lớn, trong khi tỉnh chưa xây dựng được các khu công nghiệp; xa các trung tâm kinh tế - chính trị như Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ. Kết cấu hạ tầng nông thôn còn thấp kém so với yêu cầu. Chính vì vậy không hấp dẫn các nhà đầu tư, công nghiệp chế biến hàng nông sản kém phát triển( trừ sơ chế tôm); nên khâu tiêu thụ hàng nông sản gặp nhiều khó khăn. Lực lượng trí thức chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế, nhất là hạn chế về mặt ngoại ngữ, do ít có dịp tiếp xúc với người nước ngoài, ít có điều kiện học hỏi...
Để khắc phục những khó khăn, thách thức trên, cũng như triển khai thực hiện các định hướng một cách có hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: tiếp tục tuyên truyền để nông, ngư dân hiểu rõ về chủ trương hội nhập; tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa qui mô lớn; đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, cải tiến kể cả về nội dung và hình thức; gắn kết sản xuất với chế biến, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm.
* Về chủ trương, giải pháp tầm vĩ mô của tỉnh:
- Rà soát, điều chỉnh lại qui hoạch tổng thể và qui hoạch ngành, nhất là qui hoạch các tỉểu vùng sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao; qui hoạch các cụm công nghiệp, trong đó có công nghiệp chế biến nông sản; qui hoạch mạng lưới giao thông, bến cảng phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; qui hoạch hệ thống đô thị gắn với dịch vụ và du lịch vv…
- Xác định một số mặt hàng nông sản có lợi thế của Bạc Liêu như: lúa gạo chất lượng cao, chăn nuôi heo, vịt, gà, muối và tôm, cá biển, động vật hoang dã, rau màu…
- Lấy tiêu chí nâng cao hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp làm mục tiêu phấn đấu, gắn sản xuất với bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, sản xuất theo hướng công nghệ cao, sinh thái và bền vững.
- Coi trọng việc đào tạo nghề cho nông dân, tuyên truyền, phát động nông dân áp dụng qui trình sản xuất tiên tiến cho từng loại sản phẩm theo hệ thống tiêu chuẩn hóa( GAP) đáp ứng nhu cầu hội nhập; áp dụng những thành tựu của công nghệ sinh học vào sản xuất vv….
* Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Ngành Nông Nghiệp – PTNT.
+ Truớc hết là công tác tuyên truyền:
- Hướng dẫn nhân dân nắm vững chủ trương hội nhập, thấy rõ trách nhiệm của mình, muốn phát triển và làm giàu chính đáng thì phải tự đổi mới; đổi mới cả trong nhận thức, cách nghĩ: từ bỏ những thói quen ích kỷ, tự ty, phong kiến, bảo thủ ở một số người. Đổi mới trong cách làm: nhanh chóng thay đổi tập quán làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, cạnh tranh thiếu lành mạnh, làm ăn gian dối; phải lấy chữ tín làm đầu, nhất là trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Tiếp tục tuyên truyền, vận động nông dân phát triển kinh tế hợp tác, chỉ có liên kết trong sản xuất, kinh doanh, làm ăn lớn mới tồn tại và phát triển.
- Tuyên truyền cho bà con nông dân nắm vững qui hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hớa tập trung, qua đó tự giác tuân thủ qui hoạch. Ngành Nông Nghiệp - PTNT tiếp tục phối hợp cùng các ngành, các cấp tuyên truyền sâu rộng cho người sản xuất biết và hiểu rõ những thời cơ, những thuận lợi, cũng như những khó khăn, thách thức sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Phổ biến lịch trình miễn giảm thuế đối với một số mặt hàng xuất và nhập khẩu; cũng như những điều cấm kỵ không được vi phạm trong sản xuất, kinh doanh theo luật pháp và thông lệ quốc tế.
+Về tổ chức lại sản xuất:
- Những hộ có kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, có khả năng huy động vốn nên mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh; phát triển theo qui mô trang trại hay gia trại, theo hướng an toàn sinh học. Chọn những đối tượng cây trồng, vật nuôi hay những mặt hàng nông sản mà tỉnh có lợi thế cạnh tranh và thị trường yêu cầu; chọn giống có chất lượng cao; không quá coi trọng năng suất, mà phải coi trọng cả về chất lượng sản phẩm, độ an toàn, giá thành và hiệu quả của sản xuất, cũng như tính bền vững của mô hình. Tổ chức sản xuất cây, con giống tại cộng đồng, sử dụng giống chất luợng cao. Tổ chức các hoạt động dịch vụ vật tư đầu vào, áp dụng cơ giới hóa, thủy lợi hóa và công nghệ sau thu hoạch; tổ chức phòng chống dich bệnh cho cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả.
- Đẩy mạnh việc sản xuất theo hướng công nghệ cao như: cơ giới hóa, điện khí hóa trong sản xuất nông nghiệp; phát triển máy nông nghiệp nói chung, máy gặt đập liên hợp nói riêng, lò sấy lúa, trạm bơm điện công suất nhỏ, các thiết bị tưới tự động, các loại máy chế biến thức ăn chăn nuôi công suất nhỏ, áp dụng chế phẩm EM trong xử lý chất thải chăn nuôi, xử lý rác thải, hay xử lý môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản vv…
+ Đẩy mạnh và cải tiến công tác khuyến nông:
- Trước hết, tập trung vào việc cải tiến công tác tập huấn kỹ thuật cho nông dân, bằng việc cải tiến việc biên soạn tài liệu khuyến nông, tăng hình ảnh minh họa, cập nhật những thông tin mới nhất, những kỹ thuật hay công nghệ mới. Giảm số lớp tập huấn đại trà theo kiểu cũ, mà tăng số lớp tập huấn theo mô hình( tập huấn nhiều lần theo từng công đoạn của sản xuất) hay tập huấn theo phương pháp có sự tham gia của người dân( phương pháp PTD). Hướng dẫn phương pháp sản xuât theo hướng giảm giá thành và nâng cao hiệu quả sản xuất như qui trình: 1 phải, 5 giảm và 3 tăng( 1 phải là: phải sử dụng giống xác nhận đối với sản xuất lúa chất lượng cao; 5 giảm là: giảm số lượng hạt giống lúa hay giảm chi phí về cây, con giống; giảm lượng phân đạm hay giảm chi phí thức ăn đối với vật nuôi; giảm chi phí thuốc BVTV hay thuốc thú y; giảm chi phí bơm tưới nước đối với cây trồng bằng cách tiết kiệm nước hay giảm chi phí nhiên liệu hay điện năng đối với chăn nuôi; 3 tăng là: tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng thu nhập cho người sản xuất). Như vậy nông sản sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường kể cả trong nước và quốc tế..
- Tiếp tục khuyến cáo, hướng dẫn xây dựng những mô hình sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao và theo hướng an toàn sinh học. Những mô hình đa cây, đa canh theo hướng đa dạng sinh học, áp dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, khuyến khích nhân rộng những mô hình có thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên và những hộ có thu nhập trên 50 triệu đồng /hộ/năm; chương trình " nạc hóa đàn heo", mô hình nuôi gà thả vườn an toàn sinh học, những mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp như VACB, RVAC, mô hình gắn sản xuất với dịch vụ kỹ thuật như: cung ứng vật tư kỹ thuật, thu gom, sơ chế, bảo quản nông sản vv…
- Cung cấp thông tin thị trường, nhất là giá cả vật tư nông nghiệp, giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại bằng cách phối hợp giữa các ngành, các tỉnh trong khu vực tổ chức các cuộc hội chợ Nông nghiệp – Thương mại thường niên, các cuộc hội thi nhà nông đua tài, tổ chức các cuộc thăm quan các mô hình tiên tiến trong và ngoài tỉnh.
- Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới khuyến nông, nhất là các hoạt động khuyến nông ở tuyến cơ sở. Đẩy mạnh hơn nữa việc xã hội hóa công tác khuyến nông, coi việc tham gia, phối hợp thực hiện công tác khuyến nông là trách nhiệm không chỉ riêng của ngành Nông nghiệp – PTNT, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cấp, các ngành; bởi vì nước ta là nước nông nghiệp, tỉnh Bạc Liêu cũng như các tỉnh khác ở khu vực ĐBSCL có trên 80% dân số là nông dân.
+ Về việc gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm:
- Tổ chức thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, để nâng cao giá trị sản phẩm. Quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu hàng hóa đặc thù của tỉnh như: gạo hữu cơ( gạo sản xuất từ mô hình Lúa – Cá, Lúa – Tôm, không sử dụng phân và thuốc hóa học), hạt ngò rí, muối chất lượng cao, củ cải muối vv…
- Hướng dẫn cho người sản xuất chọn lựa phương án sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng các biện pháp giảm giá thành sản xuất; liên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh với việc kết hợp" Bốn nhà", giữ chữ tín trong quan hệ giao dịch...
Những công việc trên là trách nhiệm không chỉ đối với Ngành Nông Nghiệp – PTNT Bạc Liêu nói chung, cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành nói riêng; mà còn là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể trong tỉnh, mà tiên phong là lực lượng trí thức tỉnh Bạc Liêu, cũng như tranh thủ mở rộng sự hợp tác với các Viện, Trường Đại học trong khu vực và kể cả các tổ chức khoa học phi chính phủ, sự giứp đỡ của các Bộ, Ngành ở Trung Ương.