SỐ LƯỢT TRUY CẬP

9
4
3
3
8
7
4
Chuyên đề Thứ Sáu, 21/05/2010, 16:27

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI THỎ - PHẦN I

I/ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA VIỆC CHĂN NUÔI THỎ

    1. Thỏ là một loại gia súc không tranh ăn lương thực với người và gia súc khác, nó có thể tận dụng được các nguồn sản phẩm phụ nông nghiệp, rau, lá, cỏ tự nhiên, sức lao động phụ trong gia đình, đầu tư ít vốn, quay vòng nhanh, phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta.

    - Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu thấp, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẳn có, rẻ tiền để làm, chi phí mua con giống ban đầu so với các gia súc khác ít hơn rất nhiều và chỉ phải bỏ ra một lần đầu là có thể duy trì chăn nuôi liên tục. Vòng đời sản xuất của thỏ ngắn ( nuôi 3,0 – 3,5 tháng là giết thịt; 5,5 – 6,0 tháng bắt đầu sinh sản ) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình.

    2. Thỏ đẻ khoẻ, phát triển nhanh, sản phẩm thỏ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu. Chăn nuôi thỏ có tác dụng cho việc thực hiện mô hình VAC trong kinh tế gia đình. Thỏ đẻ nhanh, một năm trung bình đẻ 6 -7 lứa, mỗi lứa 6 -7 con. Sau 3 tháng nuôi trọng lượng xuất chuồng 2.5 – 3.0 kg, như vậy một thỏ mẹ nặng 4 -5 kg một năm có thể sản xuất ra 90 – 140 kg thịt thỏ, cao hơn nhiều so với các loại gia súc khác.

    - Lông da thỏ sau khi thuộc xong, may thành mũ áo hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị lớn trong tiêu dùng và xuất khẩu. Ở Pháp 1 năm có 100 triệu tấm da thỏ trao đổi, giá trị thu từ lông da thỏ tăng thêm 30 -35%.

    - Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng nhiều làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc, chế vaccin trong y học và thú y.

    - Phân thỏ tốt hơn các loại phân gia súc khác, có thể sử dụng để bón cây, nuôi cá và nuôi trùn, lấy trùn nuôi gà, vịt, ngan, cá, lươn….

    Như vậy việc nuôi thỏ ở gia đình vừa tận dụng được phế phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng được sức lao động phụ, vừa đỡ tốn lương thực, lại cho ra một loại sản phẩm đặc biệt ( thịt, lông, da ) có giá trị tiêu dùng, y học, thú y và xuất khẩu. Ngoài ra sản phẩm phụ của nuôi thỏ góp phần tích cực tạo thế cân bằng cho trồng trọt và chăn nuôi theo công thức VAC trong kinh tế gia đình.

II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA THỎ

    1. Đặc điểm chung:

    -Thỏ là loại gia súc nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh. Khả năng thích ứng với môi trường ở mức 31- 480C, trung bình là 39,50C. Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp. Nếu nhiệt độ không khí tăng nhanh và nóng kéo dài trên 350C thì thỏ thở nhanh để thải nhiệt, khi đó thỏ dễ bị cảm nóng.

    - Thỏ thở rất nhẹ nhàng, không có tiếng động, chỉ thấy thành bụng giao động theo nhịp thở. Nếu thỏ khoẻ, trong môi trường bình thường thì tần số hô hấp 60 - 90 lần/phút. Nhịp đập của tim thỏ rất nhanh và yếu, trung bình từ 100 -120 lần/phút.

    - Thân nhiệt, tần số hô hấp, nhịp đập của tim đều liên quan thuận với nhiệt độ không khí môi trường. Ở nước ta nhiệt độ môi trường thích hợp nhất với thỏ là là từ 20 - 28,50C.

    - Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, thỏ mẹ có thể phân biệt được con khác đàn mới đưa đến trong vòng một tiếng bằng cách ngửi mùi. Cấu tạo khoang mũi rất phức tạp, có nhiều vách ngăn chi chít, lẫn các rãnh xoang. Bụi bẩn hít vào sẽ động lại ở vách ngăn. Kích thích gây viêm xoang mũi.

    - Thỏ rất thính và tinh: trong đêm tối thỏ vẫn phát hiện được tiếng động xung quanh và vẫn nhìn thấy để ăn uống bình thường.

2. Một số đặc điểm sinh sản nuôi con:

    Tuổi động dục ban đầu của thỏ thường vào lúc 2,5 tháng tuổi tùy giống và nuôi dưỡng. Thông thường sau khi động dục 2 chu kỳ mới phối giống, lúc này hệ thống sinh dục của thỏ cái phát triển hoàn thiện để đảm bảo cho việc chửa đẻ và nuôi con tốt, trọng lượng phải đạt 3 kg trở lên. Sau khi thỏ đẻ 1- 3 ngày lại động dục trở lại, sau đó chu kỳ động dục thường 12 -16 ngày, đôi khi không động dục trở lại hoặc thay đổi chu kỳ thất thường. Khả năng động dục phụ thuộc vào sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ… chỉ khi nào thỏ động dục thì mới chịu đực, sau khi giao phối 9 -10 giờ thì trứng mới rụng, đây là đặc điểm sinh sản khác hẳn với gia súc khác. Trên cơ sở đặc điểm này người ta sử dụng phương pháp phối giống bổ sung, phối lại lần thứ hai sau lần thứ nhất từ 6 - 9 giờ nhằm tăng thêm số lượng trứng được thụ tinh và đẻ nhiều con.

    - Thỏ đẻ: thời gian chửa 28 -30 ngày, nếu cho đẻ dày, thời gian chửa thường dài hơn từ 1-3 ngày. Bản năng tự nhiên của thỏ mẹ trước khi đẻ thường cắp, nhặt cỏ, lá vào ổ và nhổ lông, cào ổ trộn với đồ lót ổ làm thành tổ ấm mềm mại. Thỏ hay đẻ vào ban đêm, gần sáng. Có một số con không biết nhổ lông làm tổ, những con đó thường nuôi vụng. Thỏ đẻ từ 1-11 con, thường từ 6 - 9 con một lứa. Sau khi đẻ, con mẹ ăn hết nhau thai, trong đó có nhiều sinh tố và kích dục tố. Thỏ con sơ sinh chưa có lông, mẹ liếm sạch da toàn thân mình thỏ con và phủ lớp lông kín cả đàn.

    - Thỏ con được một ngày thì mọc những sợi lông tơ, đến 3 ngày tuổi thì có lớp lông dày ngắn 1 mm, 5 ngày tuổi lông dài 5 - 6 mm và đến 20 -25 ngày tuổi bộ lông được phát triển hoàn toàn. Thỏ con mở mắt vào ngày thứ 9 -12 sau khi đẻ, đến ngày 15 -18 thỏ tập ăn và bỏ ổ.

    - Thỏ mẹ vừa có chức năng tiết sữa, vừa có khả năng dưỡng thai, cho nên mẹ đang nuôi con, vừa đẻ được 1-3 ngày cũng có thể phối giống được và chửa đẻ bình thường.

    - Sữa thỏ đậm đặc và có chất lượng tốt hơn sữa bò: lượng đạm, mỡ, khoáng nhiều gấp 3 - 4 lần. Thỏ khỏe, tiết sữa tốt mỗi ngày có thể sản xuất được 200 -280g sữa. Thỏ đẻ lứa dầu có ít sữa hơn các lứa sau. Trong một chu kỳ tiết sữa lượng sữa tăng dần kể từ sau khi đẻ, đến ngày thứ 15 -20 là cao nhất, sau đó giảm dần. Thời điểm cạn sữa phụ thuộc vào khả năng sản xuất sữa của thỏ mẹ và mật độ sinh đẻ: nếu đẻ liên tục ( phối ngay sau khi đẻ 1- 3 ngày) thì cạn sữa vào cuối tuần thứ 4; nếu đẻ bán liên tục ( phối sau đẻ 10 ngày ) thì cạn sữa sau 5 tuần; nếu đẻ thưa ( phối giống sau cai sữa ) thì 6 tuần mới cạn sữa. Còn khả năng sản xuất sữa ( nhiều hay ít ) phụ thuộc vào con giống và chế độ dinh dưỡng trong thời gian nuôi con, kể từ khi có chửa.

III/ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG BẤT THƯỜNG VỀ SINH SẢN.

    1. Chửa giả:

    - Khi thỏ cái động dục, nếu có những tác nhân kích thích làm thần kinh hưng phấn như: thỏ cái nhảy lẫn nhau, con đực non nhảy mà không xuất tinh đều gây kích thích làm cho trứng rụng và hình thành điều tiết hóc môn ở cơ quan sinh dục cái, cản trở chu kỳ động dục tiếp theo. Như vậy thỏ cái cũng không động dục, không chịu đực, cũng nhổ lông, cào ổ, làm tổ đẻ như thỏ chửa thật. Để đề phòng hiện tượng chửa giả, cần nhốt riêng từng con thỏ hậu bị lúc 3 - 4 tháng tuổi trở lên, thỏ đực giống phải thành thục về tính dục, có khả năng thụ tinh thì mới cho phối giống.

    2. Vô sinh:

        + Thường biểu hiện ở hai dạng như lâu ngày không động dục và phối được nhưng không chửa liên tục. Dạng thứ hai ngoài nguyên nhân do con đực kém còn có một số nguyên nhân khác do con cái như:

    - Do cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung bị mắc bệnh.

    - Do nguồn thức ăn chất lượng dinh dưõng kém như thiếu sinh tố A, D, E, thiếu chất khoáng, muối ăn…

    - Do ăn quá nhiều tinh bột, giàu năng lượng dẫn đến thỏ béo quá, tích luỹ nhiều ở cơ quan nội tạng và sinh dục, thỏ không động dục hoặc không rụng trứng được.

    - Do nuôi nhốt trong lồng quá chật trội, nhốt nơi ẩm thấp, tối tăm hoặc mùa hè nóng kéo dài, mùa mưa lạnh quá đều làm cho thỏ không động dục.

    + Nếu vô sinh do bệnh tật mà không điều trị được thì nên loại thải, nếu do môi trường dinh dưỡng thì cần khắc phục.

    3.Sảy thai:

    Có thể do một số bệnh nội khoa trong thời gian có thai như bệnh Listennose, tụ cầu trùng, chướng hơi đầy bụng, cảm nóng…Ngoài ra xảy thai còn do tác động cơ học như khám thai không đúng thao tác, thô bạo làm thỏ sợ hãi đột ngột; hoặc do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý như ăn phải chất độc, thiếu chất dinh dưỡng làm thai chết yểu. Những con nào xảy thai nhiều lần cần loại thải.

    4. Ăn con:

    Có một số con đẻ xong ăn con, có khi ăn hết cả đàn con, đó là sự rối loạn sinh lý sinh sản, thiếu nước chứ không phải bệnh lý. Khi thỏ đẻ, nhu cầu nước và khoáng gấp 3 - 4 lần lúc bình thường, đẻ xong mẹ thường liếm con cho khô, ăn nhau thai, nhưng do thiếu nước và chất khoáng nên mẹ ăn luôn cả con. Nếu ta không phát hiện và khắc phục kịp thời thì có thể thỏ mẹ trở thành thói quen ở lứa đẻ sau, lúc đó phải loại thải.

    5. Bới đàn con:

    Sau khi đẻ xong, đôi khi con mẹ lại vào ổ bới phân tán đàn con khắp ổ đẻ, nhiều con bị xây xát da hoặc chấn thương ở đầu, mất chân, cụt tai, đuôi. Nguyên nhân do con mẹ bị ức chế thần kinh, hung dữ, nhảy lồng lộn trong chuồng cào bới ổ đẻ. Nếu con nào lặp lại hai ba lần thì cần loại thải.

IV/ GIỐNG THỎ NGOẠI NHẬP HIỆN CÓ TẠI VIỆT NAM

    1. Thỏ Newzealand White ( Tân Tây Lan trắng )

    - Có nguồn gốc từ Newzealand nuôi phổ biến ở các nước Châu Au và Mỹ; trưởng thành con đực nặng 4,2 – 4,5 kg; con cái nặng 3,3 – 4 kg.

    Thỏ có đặc điểm ngoại hình: Lông dày, màu trắng tuyền, mắt hồng, khối lượng trưởng thành từ 5 -5,5 kg/con. Tuổi động dục lần đầu 4 - 4,5 tháng tuổi và tuổi phối giống lần đầu từ từ 5 - 6 tháng tuổi, khi đó khối lượng phối giống lần đầu đạt 3 -3,2 kg/con.

    2. Giống thỏ Panon:

    Được nhập vào nước ta vào năm 2000 từ Hungari, giống thỏ này xuất phát từ một dòng của giống Newzealand trắng được chọn lọc nghiêm ngặt về khả năng tăng trọng và khối lượng trưởng thành tạo nên, vì vậy chúng có các đặc điểm giống như giống thỏ Newzealand nhưng tăng trọng cao hơn và khối lượng khi trưởng thành cũng cao hơn, đạt 5,5 - 6,2 kg/con. Giống thỏ này cũng đã được đưa ra chăn nuôi đạt kết quả tốt ở nhiều vùng nước ta.

    3. Giống thỏ California

    Có nguồn gốc ở Mỹ, được tạo thành do lai giữa thỏ Chinchila, thỏ Nga và thỏ Newzealand được nhập vào Việt Nam từ Hungari. Lần thứ nhất vào năm 1978 và lần thứ hai vào năm 2000. Đây là giống thỏ tầm trung cho thịt, khối lượng trung bình 4,5 -5 kg, tỷ lệ xẻ thịt 55-60%; thân ngắn hơn thỏ Newzealand, lông trắng nhưng tai, mũi, 4 chân và đuôi có điểm lông màu đen, màu mùa đông lớp lông màu đen này đậm hơn và nhạt dần vào mùa hè. Khả năng sinh sản tương tự như thỏ Newzealand. Giống này cũng đã được nuôi ở nhiều vùng trong cả nước ta.

VI/ KỸ THUẬT LÀM CHUỒNG TRẠI

    Lồng chuồng nuôi thỏ có thể đặt dưới gốc cây có bóng mát ngoài vườn, đầu nhà có mái che, chống được mưa nắng hoặc có thể tận dụng các gian nhà trống để nuôi thỏ. Dù đặt ở đâu đều phải đảm bảo không khí thông thoáng, sạch sẽ, chống được gió lùa, mát mẻ về mùa khô, ấm áp về mùa mưa, quét dọn vệ sinh và thoát phân dễ dàng. Không nên đặt lồng thỏ trong chuồng heo, chuồng gà, vừa ngột ngạt, hôi thối lại dễ nhiễm độc và lây lan bệnh từ heo, gà sang thỏ.

    - Tùy vào điều kiện chăn nuôi, lồng chuồng nuôi thỏ có thể làm bằng các loại vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền như tre, trúc, gỗ, tận dụng phế liệu sắt thép hoặc trong điều kiện chăn nuôi thâm canh cao có thể hàn chuồng bằng sắt hoặc inox…

    * Những điều kiện cơ bản khi làm chuồng phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:

    - Thỏ hoạt động dễ dàng, thoải mái, không ảnh hưởng đến sức khoẻ.

    - Dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng, ít tốn công khi cho ăn uống, chăm sóc, bắt thỏ.

    - Thỏ không chui lẫn đàn, ra ngoài, động vật khác đặc biệt là chuột không chui được vào lồng cắn thỏ.

    - Phải bền vững, chắc chắn rẻ tiền. Những phần hay bẩn, hay mòn và hư hỏng như đáy lồng, lưới cỏ, máng ăn, uống… phải dễ tháo ra lắp vào và thay thế được.

    - Kích thước chuồng phải phù hợp với việc bắt thỏ, chăm sóc, vệ sinh và quan sát trạng thái sức khoẻ. Nếu làm lồng quá cao vừa khó chăm sóc, vừa bị gió lùa từ dưới lên bụng thỏ và thỏ không yên tĩnh vì sợ độ cao. Nếu làm ngăn lồng sâu và hẹp thì khó bắt thỏ, không đủ chỗ để gắn lưới cỏ, máng ăn vào lồng phía trước và khó quan sát thỏ khi chúng ăn. Quy cách lồng chuồng phù hợp nhất là ngăn lồng khối hộp chữ nhật đặt ngang, thành lồng cao 40 -50 cm, dài 90 cm, sâu 60 cm. Lồng 1 tầng nên làm nắp mở mặt trên. Có thể làm 2 ngăn lồng liền một khối 4 chân, lồng cao 50 - 60 cm. Mỗi ngăn nên nhốt 5 - 6 con sau cai sữa vỗ béo hoặc 2 con hậu bị giống hoặc 1 con thỏ giống sinh sản.

    Nếu gia đình trật hẹp thì có thể làm lồng 2 tầng, cửa mở phía trước, dưới đáy tầng nên có khay hứng phân.

    + Đáy lồng chuồng: là một trong những chi tiết quan trọng nhất, vì nó tiếp xúc trực tiếp đến thỏ, là điều kiện vệ sinh để tránh ô nhiễm lây lan mầm bệnh và gây bệnh. Đáy lồng phải nhẵn, phẳng, êm, không để đầu đinh, mối buộc hoặc vật liệu làm lồng nhô lên mặt đáy tránh làm sây sát da, loét gan bàn chân. Đáy lồng phải có khe hở, lỗ thoát phân, nước tiểu dễ dàng, ít thấm nước và tháo ra lắp vào được. Ở gia đình, tốt nhất là làm đáy bằng các thanh tre hoặc gỗ cứng vót, bào nhẵn có bản rộng 1,4 – 1,5 cm, kết thành phên có khe hở 1,25 cm. Nếu đáy làm bằng lưới thép mắt cáo, ô vuông phải là loại dày 2,5 cm, lỗ lưới rộng 1,25 x 1,25 cm. Đáy lưới phải có thêm bệ nằm bằng miếng gỗ mỏng nhẹ đặt vào nửa đáy phía trong để thỏ nằm yên tĩnh.

    + Máng thức ăn tinh: có thể làm bằng vật liệu khác nhau như sành sứ, xi măng, gỗ, tôn,…Nếu làm bằng vật liệu nhẹ thì phải làm móc hoặc dây buộc rá vào thành lồng phía trước để thỏ không làm lật đổ được. Kích thước máng ăn phù hợp là khối hộp chữ nhật dài 35 - 40 cm để đủ chỗ cho cả đàn cùng ăn, nhưng chỉ làm hẹp miệng khoảng 10 -12 cm để thỏ không nằm vào máng ăn được, chiều cao của máng là 6 -8 cm, miệng máng nên làm gờ hoặc uống cong vào phía trong để tránh thỏ bới thức ăn ra ngoài.

    + Dụng cụ uống nước: có thể làm bằng sành, sứ hoặc đổ xi măng hình chậu cao 8 –10 cm, miệng rộng 10 –15 cm để thỏ không dẫm chân vào và không lật đổ được. Để giữ vệ sinh được nước uống, có thể làm van nước bằng ống kim loại hoặc thủy tinh dày cắm vào nút chai, nút can dốc ngược, có giá giữ vào thành lồng để thỏ hút liếm được nước. Hoặc làm khay nước có chai nước dốc ngược.

    + Máng thức ăn thô: phải được thiết kế sao cho thỏ tự rút rau lá cỏ dể ăn được, nhưng không cào bới vào đáy lồng hoặc không chui vào dẫm nát, làm bẩn thức ăn. Nên đặt máng thức ăn thô ra ngoài ngăn lồng, gắn vào một bên thành lồng phía trước, so le với vị trí đặt máng thức ăn tinh ở phía trong.

    +Ổ đẻ: phải đảm bảo ấm, kín gió, có bóng tối, mẹ vào cho bú dễ dàng thoải mái và đặc biệt phải chống được chuột vào ăn thỏ con. Nên làm ổ đẻ bằng gỗ mỏng nhẹ hoặc cót ép dày được quét sơn phẳng nhẵn, có khung nẹp chắc chắn dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng. Ổ đẻ là khối hộp chữ nhật kích thước dài 45 cm, rộng 30 cm, cao 25 cm. Mặt trên ổ đẻ được đóng kín cố định một nửa, còn nửa đầu kia làm cửa ra vào của thỏ có nắp đậy bằng lưới kim loại hoặc phên tre thưa 1,5 cm mở đóng cơ động dễ dàng. Với ổ đẻ này, thỏ con dưói 15 ngày tuổi không nhảy ra ngoài được, làm giảm tỷ lệ chết do tác động của ngoại cảnh. Có thể dùng rổ bằng mủ dạng đựng khay chén uống nước để làm ổ đẻ cho thỏ.


Số lượt người xem: 3574 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày