﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 23/05/2013 11:00:39 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/chuyende/_layouts/RssXslt.aspx?List=ffdf4e63-24e2-475d-b477-5b06b3b9814f" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Chuyên đề: Bài đăng</title>
    <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Thu, 23 May 2013 16:00:38 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Chuyên đề: Bài đăng</title>
      <url>/chuyende/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Kỹ thuật sản xuất giống sò huyết</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=123</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass89542DE2D7EA43E8A5844BB6F3F5A64E><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0941_Kthutsnxu1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ở nước ta, sò huyết phân bố dọc ven biển nhưng tập trung ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang. Sò huyết phân bố tự nhiên ở các bãi triều nông đến độ sâu 4m với thời gian phơi bãi từ 6-10 giờ/ngày đêm, có nền đáy là bùn mịn hoặc bùn cát giàu chất hữu cơ, độ mặn từ 20-30‰. Nghề nuôi sò huyết bắt đầu từ năm 1990. Sản lượng khai thác khoảng 17.000-20.000 tấn, trong đó Kiên Giang có sản lượng lớn nhất cả nước. Tổng diện tích bãi triều đang sử dụng nuôi sò mới chỉ trên 2000 ha mặc dù diện tích tiềm năng có thể phát triển nuôi trong cả nước là khoảng 50.000 ha. Nguồn sò huyết phục vụ cho nuôi sò thương phẩm hoàn toàn từ khai thác tự nhiên, nguồn lợi này đang cạn kiệt nhanh chóng do nhu cầu tiêu thu trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng. Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu quy trình kỹ thuật sản xuất nhân tạo giống sò huyết do Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III nghiên cứu và hoàn thiện.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><span style="color:blue">1. Chuẩn bị cơ sở nuôi:</span>
			</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Hệ thống sản xuất giống sò huyết gồm: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể lọc 2 (m<sup>3</sup>) </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể chứa nước 20 (m<sup>3</sup>) </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể đẻ hình cầu, đáy trắng 1 (m<sup>3</sup>) </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể ương ấu trùng nổi 18 (m<sup>3</sup>) </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể ương ấu trùng đáy 90 (m<sup>3</sup>) </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - 1 bể nuôi cấy tảo 12 (m<sup>3</sup>)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>2. Tuyển chọn sò bố mẹ và nuôi vỗ thành thục</strong></span>
		</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Sò bố mẹ phải có kích thước trên 25 mm theo chiều dài vỏ, tuyến sinh dục ở giai đoạn III,IV. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Nuôi sò bố mẹ trong bể xi măng, cho ăn 2 lần /ngày các loại tảo đơn bào Chaetoceos sp, Nanochloropsis sp, Platymonas sp., Isochrysis sp. với mật độ 20.000 tế bào/ml. Có thể bổ sung thức ăn tổng hợp, bột ngũ cốc, men bánh mì, tảo khô… Tiến hành sục khí và thay nước hàng ngày. Thời gian nuôi vỗ từ 2-5 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><span style="color:blue">3. Kích thích phóng tin, đẻ trứng</span>
			</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Phơi sò dưới nắng râm từ 120-240 phút, sau đó kích thích bằng dòng nước chảy mạnh và liên tục từ 30-180 phút. Kích thích đẻ trong bể đẻ 1m<sup>3</sup> bằng Composite với đáy trắng. Quan sát thấy sò mở miệng và thò chân ra ngoài thì dừng kích thích.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>4. Thu trứng</strong>
		</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Nước biển qua xử lý cơ học và EDTA 10ppm cấp vào bể đẻ. Sau khi sò phóng tinh trứng và đẻ trứng khoảng 3-5 phút thì tiến hành chuyển trứng bằng dòng tự chảy qua lưới lọc 100 µm vào bể ương với miệng ống hút trứng cách đáy bể đẻ 15-25 cm nhằm loại bỏ chất thải của sò bố mẹ lơ lửng trong nước và trứng non, chất cặn bã lắng đáy. Đồng thời vừa hút san trứng vừa cấp thêm nước vào bể đẻ để kích thích sò tiếp tục đẻ trứng và làm loãng mật độ trứng, tinh trùng nhằm tránh hiện tượng đa tinh trùng, đóng vón trứng do mật độ quá cao.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><span style="color:blue">5. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nổi </span><br>    </strong>- Tiêu chuẩn về môi trường nước trong bể ương ấu trùng: nước trong sạch, không nhiễm bẩn, xử lý EDTA 10ppm, pH 7,5-8,5, độ mặn: 20-25‰. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Quản lý và chăm sóc ấu trùng nổi Veliger </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Mật độ ương: 2 con/ml </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Thức ăn: tảo đơn bào Nanochloropsis sp. mật độ 3000 tế bào/ml. Cho ăn 2 lần/ngày (8h và 14h). Sử dụng thức ăn tổng hợp, men bánh mì, tảo khô khi thiếu tảo. <br>Siphon đáy và thay 30-50% nước 1 lần/ngày </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Quan sát hoạt động và dinh dưỡng của ấu trùng hàng ngày qua kính hiển vi. Điều chỉnh lượng thức ăn thông qua quan sát lượng thức ăn có trong ruột ấu trùng. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Đo kích thước ấu trùng để theo dõi sự sinh trưởng. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Thuần hoá độ mặn thấp dần xuống 20‰ vào cuối giai đoạn sống trôi nổi (ấu trùng có điểm mắt). </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Chuẩn bị chất đáy và chuyển ấu trùng </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Bùn non lọc sạch các loài địch hại như ốc xoắn, các tạp chất. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Ngâm thuốc tím 10ppm và rửa sạch trước khi đưa vào bể. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Chuẩn bị bể ương ấu trùng sống đáy: cho bùn vào bể, dày 2-5 cm </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cấp nước có độ mặn 20‰ vào bể trước khi san ấu trùng 4-7 ngày. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Siphon đáy bể ấu trùng nổi. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Lọc ấu trùng bằng lưới 100 µm chuyển sang bể đã chuẩn bị sẵn chất đáy bùn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>6. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bò và sò con</strong></span>
		</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Kiểm tra số lượng ấu trùng biến thái chuyển xuống sống đáy, đáy bùn và ấu trùng còn sống trôi nổi. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Thay nước hàng ngày từ 40-60 % thể tích bể/ngày. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Sục khí 24/24h. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Hạn chế tối đa các thao tác gây sục bùn đáy. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    San thưa đảm bảo mật độ ương giống 6000-8000 con/m<sup>2</sup> khi giống đạt kích thước &gt; 2mm. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cho ăn hỗn hợp tảo đơn bào Chaetoceros sp., Isochrysis sp., Platymonas sp., Nanochloropsis sp. với mật độ 10.000 tế bào/ml, ngày 2 lần. Sử dụng thức ăn tổng hợp, bột ngũ cốc, tảo khô… những khi thiếu tảo.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>7. Thu sò giống</strong>
		</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Thu hoạch sò giống khi đạt kích thước 5-7 mm. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Chuẩn bị dụng cụ thu hoạch: thùng, chậu nhựa dung tích 15l, 20l, có đường kính miệng rộng, lưới động vật phù du. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Phương pháp thu hoạch: dùng ống xiphong hút bùn và sò con dưới đáy bể, lọc bùn qua sàng lưới giữ lại sò con. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Xác định trọng lượng, kích thước trung bình của sò con thu hoạch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>8. Vận chuyển</strong></span>
		</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Vận chuyển khô, để ẩm (thời gian vận chuyển không quá 2 giờ) hoặc đóng trong túi nilon bơm ôxy (thời gian vận chuyển trên 2 giờ)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><span style="color:blue">9. Nuôi cấy tảo đơn bào làm thức ăn cho sò huyết</span>
			</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Phân lập giống: giống được phân lập bằng 2 phương pháp chính: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Phương pháp pha loãng: mẫu tảo bị lẫn tạp được pha loãng bằng nước nuôi cấy sao cho chỉ có một hoặc vài tế bào trong ống nghiệm. Sau đó lặp lại với những ống nghiệm có tảo cần lấy phát triển nhiều và tốt nhất. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Phương pháp phân lập trên môi trường thạch: cấy tảo trên môi trường thạch 1,5%, sau đó để các đãi thạch dưới ánh sáng 2 đèn neon, khi thấy các khuẩn lạc xuất hiện thì kiểm tra bằng kính hiển vi đề chọn khuẩn lạc tốt nhất và chuyển sang môi trường lỏng. Phương pháp này rất có hiệu quả đối với các loài tảo xanh. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Môi trường dinh dưỡng: đối với từng nhóm tảo khác nhau thì sử dụng các môi trường nuôi khác nhau. Các loài tảo đơn bào là thức ăn thích hợp cho sò huyết thuộc 3 nhóm tảo chính là tảo xanh, tảo khuê, tảo vàng. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Môi trường dinh dưỡng sử dụng cho nuôi sinh khối các loài tảo đơn bào </em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:221px"><col style="width:132px"><col style="width:132px"><col style="width:133px"></colgroup><tbody valign=top><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoá chât </span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tảo xanh</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tảo khuê</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tảo vàng</span></p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đạm</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">100</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">70</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30</span></p></td></tr><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lân</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">10</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6</span></p></td></tr><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Urê</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">10</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">5</span></p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Axit citric</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">15</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">7</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">7</span></p></td></tr><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Fe<sup>3+</sup></span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1</span></p></td></tr><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vitamin B1, B12</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">0,05-0,1</span></p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Silic 5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td></tr></tbody></table></div><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tảo xanh bao gồm các loài tảo: <em>nanpchloris atomus, Chlorella sp., Dunaliella salina, platymonas sp., tetraselmis suecica, heterogloea sp., nanochloropsis oculata. </em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Tảo khuê gồm các loài tảo <em>Chaetoceros calcitrans, chaetoceros gracilis, Chaetoceros muelleri, navicula sp. </em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Điều kiện nuôi: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Trong phòng: tảo được nuôi trong ống nghiệm, bình tam giác (125ml, 500ml, 1000ml), bình 10l, 20l dưới ánh sáng đèn neon 40W, nhiệt độ 24-27<sup>0C</sup>, S‰: 27-32‰. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Ngoài trời: tảo được nuôi trong thùng nhựa trắng 160l, các bể ciment 1m<sup>3</sup>, dưới ánh sáng và nhiệt độ tự nhiên. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Môi trường tối ưu để nuôi các loại tảo như sau: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:111px"><col style="width:211px"><col style="width:112px"><col style="width:106px"><col style="width:90px"></colgroup><tbody valign=top><tr style="height:12px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ĐK nuôi</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cường độ ánh sáng (lux)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhiệt độ (<sup>0</sup>C)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Độ mặn (‰)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:outset 0.75pt;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">pH</span></p></td></tr><tr style="height:14px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tên giống</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span> </p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Platymonas</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">5000-10000</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">25-28</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30-35</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">7.5-8.5</span></p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dunaliella</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2000-6000</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30-40</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">25-28</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">7.5-8.5</span></p></td></tr><tr style="height:14px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nanno</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1000-2000</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">25-30</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30-32</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">7.5-8.5</span></p></td></tr><tr style="height:13px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chlorella</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1000-2000</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">25-28</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30-32</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6.0-8.0</span></p></td></tr><tr style="height:14px"><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:outset 0.75pt;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chaetoceros</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6000-8000</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">25-35</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">20-25</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:outset 0.75pt;border-right:outset 0.75pt"><p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">8.0-9.0</span></p></td></tr></tbody></table></div><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Thu Hằng</em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><em>Nguồn tin: khuyennongvn.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:42 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.758</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:42:36 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=123</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=128</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass04B4EC9ECE67468FAFCDFE9289E31700><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0943_KTHUTTRNG1.gif" alt=""><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Các giống được trồng hiện nay gồm có: Dưa Sugar Baby, dưa Phú Quang, Dưa Sóc Trăng, dưa Hồng Lương, Dưa Xuân Lan, Dưa Hắc Mỹ nhân, dưa An Tiêm, Dưa TN, Sugar 75, Wase 44, dưa hấu chợ Gạo.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I. Kỹ thuật trồng:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    I.1. Thời vụ:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>    </strong></span><span style="color:#333333">    Vụ Đông Xuân gồm 2 vụ dưa: Vụ dưa Noel gieo từ 5/10 dương lịch đến 15/10 dương lịch, vụ dưa tết gieo từ ngày 10-20/11 dương lịch.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Vụ Xuân Hè gieo từ tháng 2 dương lịch, thu hoạch cuối tháng 4 dương lịch; hoặc có thể gieo vào đầu tháng 12 dương lịch, cây con không gặp mưa. Các giống dưa hấu lai F1 có thể trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>I.2. Chuẩn bị đất:</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Đất phải được cày bừa kỹ, bón vôi 300kg/ha trước khi lên luống.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Luống đôi: rông 5-6m, trên mỗi luống rộng 0,8-1m, cao hơn 20cm tạo mương nước sâu 30cm giữa 2 luống.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Luống đơn: rộng 2,5-3,0m, cao 20cm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>I.3. Khoảng cách trồng:</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333">Đối với luống đơn, mỗi hốc trồng 2 dây, hốc cách nhau 40-50cm, trồng một hàng. Đối với luống đôi mỗi hốc trồng 1 dây, hốc cách nhau 40-50cm, trồng 1 hàng trên mỗi luống.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Có điều kiện nên dùng tấm phủ ni lông (plastic) mầu đen, mặt trên có ánh bạc để phủ lên.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>I.4 Chuẩn bị hạt giống và cây con:</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333"> - Để trồng 1000m<sup>2</sup> cần 40-50gr hạt giống (mỗi sào bắc bộ 15-16gr hạt).</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Xử lý hạt giống: phơi nhẹ hạt giống 1-2 giờ trước khi ngâm. Ngâm hạt giống trong Forwanil 75WP nồng độ 0,1% trong 15 phút sau đó ngâm trong nước ấm 37-40<sup>0</sup>C (2 sôi + 3 lạnh) trong 6-8 giờ, vớt ra chà lại với nước ấm cho hết nhớt, ủ ở nhiệt độ 28-32<sup>0</sup>C khoảng 28-32 giờ cho hạt vừa nhú mầm thì đem gieo.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Gieo hạt:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        + Gieo trong bầu: Chuẩn bị bầu đất sẵn (trộn giữa đất, tro, phân hoai mục tỷ lệ (3-1-1) tưới ướt bầu, bỏ hạt nằm ngang, sâu 1cm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        + Gieo thẳng: Gieo trực tiếp lên líp trồng, gieo 2 hạt /hốc. Khi cây có 4-5 lá thật thì tỉa bỏ cây yếu mỗi hốc chỉ chừa lại 1 cây con khoẻ, đồng đều không bị sâu bệnh lúc cây được 8-10 ngày sau khi gieo.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>II. Phân bón:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>    </strong></span><span style="color:#333333">Liều lượng dùng cho 1 ha là: Phân chuồng (nếu có) 20-30 tấn, 230-250kg urê, 170kg Clorua kali (KCl), 400kg super lân, 50kg DAP, 300 kg phân dơi hoặc tôm cá.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>* Cách bón:</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333">- Bón lót: Toàn bộ phân super lân, DAP, phân dơi, phân chuồng (nếu có), 50kg urê và 40kg Clorua kali.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thúc lần 1 (10-15 ngày sau khi trồng): 100kg urê + 40kg Clorua kali.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thúc lần 2 (20-25 ngày sau khi trồng): 50kg urê + 20kg Clorua kali.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thúc nuôi quả (sau khi đã để quả): 100kg urê + 50kg Clorua kali.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Chú ý: Có thể dùng phân hỗn hợp NPK (16-16-8) với lượng 500kg/ha để thay thế phân đơn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Không dùng chất kích thích tăng trưởng ở giai đoạn phát triển quả vì dễ gây hiện tượng rỗng ruột, xốp quả, quả bị chua và dễ hư trong bảo quản.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>III. Chăm sóc:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>   <img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0943_KTHUTTRNG2.gif" alt=""></strong></span><span style="color:#333333">- Mỗi lần bón phân lên kết hợp với làm cỏ vun gốc.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    - Tưới nước: Dưa hấu ưa ẩm, chịu hạn nhưng sợ bị ngập úng, đảm bảo độ ẩm của đất 70-75%, chỉ giảm lượng nước tưới khi gần thu hoạch. Khi cây lớn có thể tưới thấm bằng cách cho nước vào rãnh và không để ngập mặt líp, trước khi thu hoạch 7 ngày để ruộng dưa khô (độ ẩm đất 50-60%)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    - Tỉa nhánh, chỉnh dây: để 1 dây chính và 1-2 dây phụ từ những nhánh to khoẻ ra sớm nhất, tính từ gốc lên trên tỉa bỏ các nhánh khác. Khi thân có 5 lá thật thì bấm ngọn, 20-25 ngày sau khi trồng thì sửa dây bò vuông góc với mặt luống.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thụ phấn bổ sung: Chọn nụ cái to để thụ phấn bổ sung (các hoa thứ 2, 3, 4 trở đi thường là nụ hoa cái to), dùng phấn hoa đực mới nở chấm lên nhuỵ hoa cái vào buổi sáng (từ 6-9 giờ), mỗi dây thụ phấn 2-3 hoa. Khi quả bằng quả chanh tiến hành lựa quả. Mỗi cây chỉ để 1-2 quả (tốt nhất để 1 quả)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    - Sau khi để quả 7-10 ngày sửa lại vị trí quả để quả bò tròn đều, có màu sắc đẹp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>IV. Phòng trị bệnh:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    IV.1. Nhện đỏ (Tetramychuss sp)</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>    </strong></span><span style="color:#333333">Còn gọi là Bọ xít lửa, Bọ chét lửa, rầy lửa. Chích hút mắt dưới lá, ngọn, quả non, truyền bệnh lám xoắn lá, đọt.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    Phòng trừ: Có thể dùng 1 trong các loại thuốc ONCOL 25BHN, ONCOL 25ND, Trebon 10ND… nồng độ 0,1-0,2% hoặc dùng thuốc đặc trị trừ nhện có hoạt chất Hanfenprox.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    IV.2. Bọ dưa còn gọi là Bọ rùa vàng (Anlacophora Somilis)</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333">Sâu non chui xuống gốc ăn rễ dưa, đục vào gốc làm cây dưa vàng lá, có thể chết ngay giống như bệnh cháy dây do vi khuẩn.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">       Phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng sạch cỏ dại và gom dây dưa để dụ thành trùng đến ăn và đẻ trứng rồi phun thuốc và đốt để diệt. Dùng một trong các thuốc Azodrin, Sevin….nồng độ 0,2 -0,2%; hoặc rải thuốc Basudin 10H, Regent 0,3G để trị.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>IV.3. Rệp dưa (Aphis sd)</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333">Rệp dưa chích hút nhựa, làm cây phát triển kém, lá quăn queo. Phòng trị như bọ dưa.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue"><strong>IV.4. Bệnh chạy dây (do vi khuẩn Pseudomonas sp)</strong></span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>        </strong></span><span style="color:#333333">Gốc thân có màu vàng nâu, rễ không phát triển và bị thối cây bị héo rũ đột ngột, bệnh này rất nguy hiểm cho dưa.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">        Phòng trừ: Không có thuốc trừ, khi dưa bị bệnh này cần nhổ, đốt bỏ, rắc vôi bột quanh gốc bệnh.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><span style="color:#333333">    </span><span style="color:blue">IV.5. Bệnh héo vàng (do nấm Fusarium oxyspo f.sp.niveum)</span></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>    </strong></span><span style="color:#333333">Phòng trị: Dùng một trong các loại thuốc Bavistin 50FL. Benomyl, Rovral. Copper0-zin…nồng độ 2% Ridomil, Benlate nồng độ 1% tưới vào gốc hoặc phun lên lá nếu bị bệnh nhẹ. Cây bị bệnh nặng không chữa được phải nhổ bỏ để tiêu huỷ. Dùng vôi bột khử trùng hố cây đã nhổ. Các thời điểm khác nhau nhằm rải vụ thu hoạch, hạn chế hao hụt sản phẩm. Thời gian thu hoạch quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạt và một vài mắt ở gần cuống có màu vàng.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    Nên hủy bỏ dứa gốc và trồng lại sau 2 vụ thu hoạch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>IV.6. Bệnh thán thư (Collectotrichum lagenarium)</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    Bệnh thường gây vết lở trên quả, làm nước trong quả chảy ra, bệnh phát sinh từ vết cắn phá của côn trùng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    Phòng trừ: Dùng 1 trong các thuốc Bavistin 50FL, Mancozel, Benlat-C, Copper-B, Rovral, Ridomil, Topsin.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">    Ngoài ra còn có bệnh khảm (do virut), bệnh làm lá nhỏ lại, quăn queo không có thuốc trị.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>V. Thu hoạch:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>    </strong></span><span style="color:#333333">Dưa hấu sau khi trồng được 80-85 ngày, khi vỏ quả láng bóng, gân hiện rõ, phần tiếp xúc với đất có màu vàng, 80% dây đã héo lá có thể thu hoạch. Cắt cuống quả dài 2cm, để dưa ở nơi thoáng mát sau 10-15 ngày, lượng đường trong dưa chuyển hoá, lúc này dưa rất ngọt thì sử dụng.</span></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:#333333"> </span><strong><em>Nguồn tin: Đồng Văn Khang (haiduongdost.gov.vn)</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:44 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.606</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:44:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=128</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KỸ THUẬT CHĂN NUÔI NGỖNG</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=107</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCB168419B55A49038E9B29008B0389FC><p style="text-align:center"> 
 </p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I. NUÔI NGỖNG CHĂN THẢ ĐỒNG.</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>1.</strong> <strong>Nuôi ngỗng sinh sản.</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Ngỗng sinh sản có thể chăn đàn từ 50 – 300 con.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Buổi sáng khi thả ngỗng ra khỏi chuồng nên lùa xuống ao sạch để chúng giao phối và tắm. Sau đó đưa ngỗng ra đồng chăn. Ngỗng thường nhớ đường đi về, chỉ cần tập vài lần là quen, chúng có thể đi ăn rất xa rồi tự tìm đường về chuồng được. Nhưng không nên cho ngỗng đi ăn quá xa sẽ bị mệt, nhất là vào mùa đẻ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Ngỗng có thể chăn thả ở những cánh đồng đã gặt, bãi cỏ ven đê, bờ cỏ ven mương máng nhưng đó là những bãi chăn quanh năm của ngỗng. Ngỗng thích vặt cỏ non, cỏ già hay quá cao chúng chỉ ăn khi không còn cỏ khác. Có thể lùa ngỗng đi chăn theo các mương máng thường có nhiều cỏ non và hạt cỏ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng ít mò kiếm mồi như vịt nên ao hồ chỉ là nơi phối giống, bơi lội là chủ yếu. Người ta không thả ngỗng ra ven biển vì chúng không thích ăn những loại thức ăn mà vịt rất thích.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng ở nước ta chịu khó kiếm ăn, nói chung trong toàn bộ thời gian chăn thả, chúng chỉ nghỉ lúc đã ăn no, khi trời quá nóng hoặc khi bị bùn bẩn phải xuống ao hồ tắm.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời gian nuôi ngỗng bố mẹ được chia làm ba thời kỳ:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>*Thời kỳ sinh sản:</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ở thời kỳ này ngỗng co, ngỗng sư tử thường đẻ làm ba đợt, đợt đầu thường kéo dài hơn. Như vậy, không phải toàn bộ ngỗng cái đều cùng đẻ đồng loạt như nhau, mà có con đẻ trước có con đẻ sau. ngỗng rất nhớ ổ đẻ nên dù đang ăn ở đâu khi mót đẻ chúng cũng tự ý tách đàn đi về ổ đẻ của mình. Đang ở ngoài đồng, khi ngỗng cái bỏ về nhà, một ngỗng đực quen thuộc  thường cũng theo về đứng gần ổ đẻ. Khi đẻ xong ngỗng tự đi ra đồng cùng kiếm ăn với đàn. Nhìn chung trứng ngỗng tỉ lệ có phôi không cao và nếu không có cách quản lý nuôi dưỡng thì có khi tỉ lệ phôi rất thấp. Muốn nâng cao tỉ lệ trứng ngỗng có phôi cần phải làm như sau:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Cho ngỗng đực ăn thêm thức ăn bổ sung. Vào trước vụ để tách riêng ngỗng đực cho ăn thêm khoảng 15 ngày. Ngỗng đực được ăn tốt sẽ cho phẩm chất tinh dịch tốt. Thức ăn bổ sung là lúa ủ mầm mới nhú, cũng có thể cho ăn thêm thức ăn hỗn hợp bao gồm bột cá, cám trộn với rau xanh…….</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Khi thành lập đàn cần lưu ý đến tỉ lệ ngỗng ở các lứa tuổi khác nhau. Đàn ngỗng bố mẹ có thể sử dụng đến 5 năm, trong đàn nên có 10% ngỗng 1 năm tuổi, 20% 2 năm tuổi, 35% 3 năm tuổi, 25% 4 năm tuổi và 10% 5 năm tuổi. Thành lập đàn như vậy ngỗng đực có thể lựa chọn ngỗng cái phù hợp với nó và nâng cao tỉ lệ trứng có phôi.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-Thường ngỗng hay giao phối vào buổi sáng sớm sau khi thả ra khỏi chuồng, vì vậy khi thả ngỗng cần lùa chúng xuống ao hồ nước sạch và sâu để chúng giao phối được thuận lợi</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Buổi chiều lùa ngỗng về nếu thấy ngỗng còn đói thì nên cho ăn thêm thóc, bắp. Ngỗng đẻ được ăn no sẽ đẻ đều và có khả năng chịu đực tốt hơn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>*Thời kỳ ấp trứng:</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-Trước hết cần chuẩn bị tốt ổ đẻ cho ngỗng. Ổ đẻ có thể làm chung quanh tường trong chuồng, khoét nền  chuồng thành hình lòng chảo có đường kính 40 cm, sâu 20 cm, lấy rơm vò mềm rồi lót lên ổ một lớp dầy 15cm, có thể đổ thêm trấu vào ổ. Giữa các ổ nên có vách ngăn để tránh tình trạng ngỗng tranh nhau ổ đẻ và đánh cắp trứng ấp của nhau. Khi ngỗng ấp cần san trứng trong mỗi ổ cho đều, không để con có nhiều trứng quá, con ít trứng quá. Ngỗng cái ham ấp, chỉ thỉnh thoảng chúng mới đi ra ngoài để phóng uế và ăn uống, vì thế nên để thức ăn và nước uống sẵn trong chuồng</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>*Thời kỳ ngưng đẻ:</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Thời kỳ này kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 8. Trong thời gian này không phải cho ngỗng ăn thêm gì, vì ngỗng không có thói quen chăm con, ngỗng con thường được nuôi riêng. Cũng vào thời gian này ngoài bãi chăn sẵn cỏ non và đặc biệt lại vào vụ gặt Đông – Xuân ngỗng được lùa ra đồng cho ăn lúa rụng. Nếu được chăn thả tốt, ngỗng bố mẹ được đủ thì chúng sẽ thay lông nhanh chóng, hồi phục được sức khỏe và tích lũy được các chất dinh dưỡng để phát triển trứng non và chuẩn bị cho vụ đẻ sau.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Nhìn chung ngỗng lớn có khả năng thích nghi với sự thay đổi thời tiết cao. Nhiệt độ thích hợp đối với ngỗng sinh sản thường là từ 14 – 15<sup>0</sup>c. nếu trời mưa lạnh thì cần che chuồng cho ngỗng và tránh gió lùa. Về mùa hè ngỗng thường không chịu được nóng, vì thế chăn thả nên tìm nơi có bóng cây và có ao hồ nước sâu và mát để chúng bơi lội.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>2.</strong> <strong>Nuôi ngỗng con (gột ngỗng):</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Ngỗng con ở vào từ lứa tuổi sơ sinh đến 4 tháng tuổi khác với ngỗng bố mẹ, ngỗng con rất sợ lạnh vì khả năng điều tiết thân nhiệt kém. Ngỗng con được ăn no đủ sẽ lớn rất nhanh, thể trọng có thể gấp 15 – 20 lần lúc mới nở. Nuôi ngỗng con chăn thả hiện nay là một khâu khó khăn nhất, nhưng lại có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ kỹ thuật chăn nuôi ngỗng.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Trong nông dân ta có rất ít người có kinh nghiệm gột ngỗng con. Những người này thường ít phổ biến kinh nghiệm cho những người khác. Có thể đây là một trong những nguyên nhân chính khiến nghề nuôi ngỗng của ta qua bao thế kỷ vẫn chưa phát triển được. Thật ra việc gột ngỗng con không phải là một việc làm quá phức tạp. Những ngày đầu ngỗng con cần có nhiệt độ bên ngoài là 32<sup>0</sup>c. có thể quây ngỗng con bằng mê bồ cao từ 0,5 – 0,8m. tùy theo số con mà quây mê bồ rộng hay hẹp nhưng không nên để thành đàn đông trên 200 con. Trong 3 ngày đầu chưa nên đưa ngỗng đi chăn vì lúc này chân nó còn yếu, đi chưa vững. Thời gian này không nên cho ngỗng ăn thức ăn đạm động vật để cho khối lòng đỏ còn lại trong bụng tiêu hết, nếu không nó sẽ biến thành một thứ tuyến làm ảnh hưởng đến sức lớn của ngỗng sau này. Thức ăn ngỗng thích nhất là rau xà lách. Nếu là xà lách thì thái nhỏ bằng sợi bún, trộn với ít cám hoặc cột thành bó cả cây treo lên vừa tầm để ngỗng tự vặt lấy. Nên để thức ăn thành nhiều chỗ để ngỗng đỡ tranh nhau ăn, nếu không có con ăn ít sau này đàn ngỗng lớn không đều.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng con ăn rất khỏe và ăn luôn miệng. Buổi tối nên có đèn đủ sáng và đủ  ấm thì ngỗng con có thể vẫn ăn uống. Sau 3 ngày tuổi phải tiếp tục cho ngỗng ăn vì chưa đưa chúng đi chăn thả được. Lúc này thức ăn phải có đủ thành phần và được gọi là thức ăn khởi điểm. Đây là một thứ thức ăn hỗn hợp gồm các thứ hạt nghiền (gạo, bắp nghiền, đậu mảnh). Kích thước hạt thức ăn không được quá 4mm. Cho thêm khô dầu đậu tương, khô dầu đậu phộng và bột cá. Tỷ lệ các loại thức ăn trong khẩu phần (%) của ngỗng con trong 2 tuần lễ đầu có thể phối hợp như sau:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hỗn hợp thức ăn hạt                          70</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thức ăn đạm nguồn gốc động vật        5</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thức ăn đạm nguồn gốc thực vật        8</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cám                                                 15</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Các loại thức ăn bổ sung khác            2            </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:18pt"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0926_KTHUTCHNN1.png" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">                                                          </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">                                                        100</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Đây là loại thức ăn dành cho ngỗng con của  một số trại nuôi ngỗng tập trung với phương thức chăn nuôi thả là chủ yếu. Còn ở các trại giống nuôi ngỗng ngoại theo hình thức nuôi thâm canh trong đó chăn thả chỉ là phụ thì phải có thức ăn khác, đầy đủ thành phần hơn. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Có thể đánh giá kết quả chăn nuôi ngỗng bằng cách theo trọng lượng của ngỗng con ở các lứa tuổi khác nhau. Nói chung nếu sự tăng trọng đạt được như sau thì coi như ngỗng con đã phát triển bình thường ( đối với ngỗng cỏ):1 ngày tuổi: 110g,7 ngày tuổi: 220g,14: ngày tuổi 400g, 21: ngày tuổi 570g, 28: ngày tuổi 820g</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Thông thường muốn đạt được trọng lượng này thì trong chăn nuôi chăn thả  phải cho ngỗng ăn khoảng 2,5 kg thức ăn tinh</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Sau 5 ngày tuổi thì có thể đưa ngỗng đi chăn. Lúc này chân ngỗng vẫn còn yếu nếu bãi chăn thả khá xa thì phải chở chúng đi (có thể gánh bằng xịa có nắp hở. Chú ý đừng có chở chật quá vì ngỗng con có thể đè lên nhau mà chết). Bãi chăn ngỗng con ở lứa tuổi này phải có nhiều cỏ non nhưng phải bằng phẳng và không quá rậm rạp. Ngỗng thích ăn cỏ gấu và cỏ gà non nhất. Phải tới 15 ngày tuổi mới có thể thả ngỗng đi ăn tự do được. Đến tuổi này ngỗng con rất hoạt động, chúng luôn sục sạo tìm mồi nhất là tìm cỏ, lá và củ. Do đó phải chú ý không để chúng phá vườn tược hoa màu. Số lượng thức ăn hàng ngày của ngỗng có thể lên đến 150g trong đó cỏ chiếm 100g, lúc ngỗng ăn no trông thực quản còn to hơn cổ của nó. cho ngỗng vặt cỏ tốt hơn là cho ăn rau trồng (rau muống, rau lang….)vì cỏ chứa ít nước hơn (giá trị dinh dưỡng tổng số của cỏ lớn hơn tuy vật chất khô có thể kém so với một số loại rau trồng).ngoài ra ngỗng ăn cỏ thì phân đỡ ướt, do đó đỡ công dọn vệ sinh.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nước uống cho ngỗng trong những ngày đầu rất quan trọng; mỗi ngỗng con từ 1 ngày tuổi đến 5 ngày tuổi cần trung bình 50 ml trong một ngày đêm. Chú ý đặt máng uống hơi cao để ngỗng không dẫm đạp vào và nhất là tránh chúng rỉa lông bằng nước uống. Lông ngỗng con là lông tơ, tuyến nhờn chưa phát triển nên rất dể ướt. Lông hi đã ướt ngỗng lại ăn thức ăn bột thì lông dễ dính bết, mắt có thể bị đau và có khi lông tróc ra thành từng mảng.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Khi chăn thả ngỗng con (dưới 15 ngày tuổi) nên mang theo máng đựng nước sạch cho ngỗng uống, vì nếu để ngỗng đi tìm nước uống thì chúng có thể sa xuống hồ, ao không lên được.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Những ngày trời mưa lạnh và gió to không cho ngỗng dưới 15 ngày tuổi ra đồng. Nếu nuôi ngông theo lối bán thâm canh  thì sự phụ thuộc của ngỗng con vào thời tiết sẽ giảm đi nhiều. Những khi nắng hoặc mưa gió nên để ngỗng ở lại chuồng và lúc này rau xanh sẽ thay thế cho cỏ vì ngỗng không thể ra bãi chăn thả được.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Từ 15 ngày tuổi trở lên lúc này ngỗng con đã cứng cáp, có thể cho tự do tìm thức ăn và nước uống ở những bãi chăn xa hơn. Ơ tuổi này ngỗng con có thể tự tìm ra bãi chăn nhưng việc chăm sóc chúng trên đường đi hay ở bãi chăn thả là rất cần thiết; chú ý đừng để chúng đi quá phân tán, lạc đàn, sa xuống chỗ sâu không lên được hoặc phá hoại các loại cây trồng.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng con ăn lắm ỉa nhiều. Phân ngỗng rất ướt và hăng, vì thế tro ng chuồng hay chỗ ở quây ngỗng phải luôn quét dọn sạch sẽ. Ngoài ra cần chú ý đề phòng chuột mèo hay cắn ngỗng con. Chỗ nuôi ngỗng phải được bảo vệ cận thận, nếu 'là quây mê bồ thì ở trên phải có nắp lưới hay nắp phên (có khe hở để thông hơi)đậy khít. Bên trong quây có treo đèn  để có ánh sáng cho ngỗng ăn đêm và chuột sợ không dám  vào.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>3.</strong> <strong>Nuôi ngỗng thịt và ngỗng hậu bị</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Từ 1 tháng tuổi trở lên là ngỗng choai nuôi lấy thịt hay nuôi hậu bị để thành lập đàn mới hoặc bổ sung đàn ngỗng sinh sản.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nuôi ngỗng thịt nói chung đơn giản hơn vì lúc này ngỗng đã trưởng thành, chúng phàm ăn và chóng lớn, do đó rất thích hợp cho cách nuôi chăn thả.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng thịt có thể nuôi theo đàn đông khoảng 300 – 500 con, lứa tuổi trong đàn không nên chênh lệch nhau quá nhiều để cho ngỗng lớn đều và dễ tổ chức chăn thả.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nếu nuôi đúng vào vụ gặt lúa thì buổi sáng lùa ngỗng ra ngoài đồng để nhặt các hạt rơi vãi. Trông một đàn lớn cũng không vất vả lắm vì chúng không chạy nhanh và sục sạo khắp nơi như vịt, vì vậy có thể sử dụng lao động phụ như cụ già trẻ em. Vào vụ gặt thường không phải cho ngỗng ăn thêm gì, vì ngỗng ăn nhiều và phàm ăn, nhiều khi chúng ăn thức ăn đầy lên tận hầu. Thế mà một giờ sau thức ăn đã vơi và chúng có thể kiếm thức ăn ngay. Khi thấy ngỗng ăn đã no nên lùa chúng vào nghỉ chỗ râm mát, có nước để uống và bơi lội. Ngỗng choai rất thích bơi lội và đùa giỡn dưới nước. đàn ngỗng được tắm đầy đủ thường thay lông bóng mượt.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Nếu nuôi ngỗng choai không đúng vào vụ gặt thì sau khi chăn ở đồng bãi về cần cho ngỗng ăn thêm. Thức ăn cho thêm thường là lúa xấu, khoai lang băm nhỏ, sắn, bắp…..nếu ở gia đình nuôi với số lượng ít (khoảng 10 – 15 con)thì có thể tận dụng nước vo gạo trộn thêm thức ăn vào  để chúng mò, nước vo gạo  chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin B<sub>1</sub> rất cần cho ngỗng choai. Nhiều gia đình còn cho ngỗng ăn thêm bã rượu, bã đậu, cám heo…..cũng rất tốt.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-  Tùy theo điều kiện chăn nuôi có thể kết thúc nuôi ngỗng thịt vào lúc 75 hay 90 ngày tuổi lúc này ngỗng được 3,5 – 4,2kg. Nếu ngỗng được nuôi dưỡng tốt chóng lớn thì có thể rút ngắn thời gian nuôi, vì ở 10 tuần tuổi có con đạt được 3,5kg nếu là ngỗng sư tử hay ngỗng cỏ và nặng 4kg nếu là ngỗng Rênan.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng hậu bị  có thể chọn ra từ đàn ngỗng thịt, chú ý tránh đồng huyết, chọn ngỗng thịt đưa lên hậu bị chủ yếu căn cứ vào ngoại hình. Ở 3 tháng tuổi ngoại hình ngỗng chưa thật hoàn chỉnh, vì vậy cần kết hợp với cân đo và tiêu chuẩn giống để chọn cho sát. Nên dự phòng một số ngỗng  đực ngoài yêu cầu cần thiết. Ví dụ nếu 100 ngỗng cái yêu cầu cần thiết là 25 ngỗng đực, thì ta nên chọn 30 con làm hậu bị. Đến khi vào vụ đẻ ta sẽ loại bớt ngông đực xấu đi và cả những con cái không đạt yêu cầu</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Sự phân biệt đực cái ở các giai đoạn ngỗng thịt chuyển lên hậu bị vẫn còn khó. Thường ngỗng đực nặng cân hơn, đầu to, cổ dài dáng đi nhanh nhẹn và thường đi trước đàn. Nhưng để chính xác phải  mở lỗ huyệt của ngỗng để chọn: ngỗng đực có gai giao phối màu hồng nhạt, dài độ 1,5cm, ngỗng cái có lỗ huyệt nhẵn và hơi mềm hơn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Người ta thường nuôi ngỗng hậu bị theo lối &quot;cầm xác&quot;, chủ yếu cho ăn ngoài đồng bãi. Ở giai đoạn này  ngỗng hậu bị được chăn ngoài đồng sẽ chịu  đựng kham khổ, đỡ  tốn thức ăn, chịu khó tìm thức ăn, đồng thời cách nuôi chăn thả có thể nâng cao sức khỏe của ngỗng. Ở lứa tuổi này ngỗng tăng trọng hầu như không đáng kể, chúng chỉ béo lên trước vụ đẻ khi được nuôi vỗ béo. Việc tăng trọng chậm ở giai đoạn hậu bị không phải là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá con giống, trái lại người nuôi ngỗng có nhiều kinh nghiệm cố gắng tránh ngỗng béo lên trong thời kỳ này</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-   Lúc chuyển ngỗng hậu bị sang đàn sinh sản cần chọn lọc lại để loại bỏ những con không đủ tiêu chuẩn</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>II. NUÔI VỖ BÉO VÀ NHỒI BÉO NGỖNG</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nuôi vỗ béo ngỗng là phương pháp cho ngỗng ăn các loại thức ăn giàu chất bột đường để chúng tích lũy mỡ và thịt nhanh chóng</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nhồi béo là phương pháp vỗ béo tích cực nhất bằng cách ép chúng ăn thật nhiều loại thức ăn trên để tăng mỡ thịt hoặc để lấy gan béo</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Ngỗng thịt nuôi theo lối chăn thả có thể dùng để vỗ hay nhồi béo rất thích hợp</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Quá trình vỗ béo  hay ngỗng lấy mỡ, thịt hay nhồi béo lấy gan đều phải tuân theo các điều qui định chính sau đây:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Giống để vỗ và nhồi béo: cần phải chọn lọc cận thận thì mới đạt hiệu quả cao, không dùng dùng ngỗng cỏ và ngỗng Sư tử để nhồi béo lấy gan và mỡ vì khả năng tích lũy mỡ của các giống này kém, ngỗng để nhồi tốt nhất là ngỗng Lăng, hoặc con lai của ngỗng Lăng x Rênan</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Tuổi vỗ và nhồi béo thích hợp: ngỗng vỗ béo là 56 ngày và nhồi sau 10 tuần tuổi, nhưng độ tuổi nếu quá muộn thường chỉ đạt hiệu quả kinh tế thấp, còn quá sớm thì gây chết nhiều đồng thời khả năng tăng trọng cũng không cao (do chúng  chưa phát triển bộ khung đầy đủ và khả năng hấp thu cũng kém)</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Kỹ thuật nhồi nói chung cần được luyện tập để đảm bảo làm nhanh nhẹ nhàng</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Chuồng nuôi cần bảo đảm yên tĩnh, hơi tối có độ ẩm vừa phải cho ngỗng vỗ béo (75 – 80%) nhưng cần thoáng mát và vệ sinh</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Thức ăn dùng để nhồi hay vỗ béo cần được lựa chọn cho thích hợp với giống và được xử lý đúng cách . nói chung thức ăn phải mềm, dễ tiêu sạch và có chất lượng tốt</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Cho ngỗng uống nước đầy đủ, nước trong sạch, nên cho uống tự do trong thời kỳ vỗ và nhồi thời gian nhồi ngỗng kéo dài bao nhiêu là tùy theo loại ngỗng và phụ thuộc vào mục đích lấy thịt, mỡ hay gan đồng thời còn phụ thuộc vào yêu cầu chất lượng sản phẩm: béo vừa hay béo đẫy, gan to vừa và chắc hay gan thật béo</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Vỗ béo hay nhồi béo ngỗng, ngỗng có thể vỗ béo để bán thịt hoặc nhồi để lấy gan.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+Vỗ béo bán thịt bằng cách cho ăn tự do: trước khi vỗ béo cần cho ăn no đủ, sau đó trong 10 ngày vỗ đầu tiên cho ngỗng ăn thường xuyên thật no, tiếp theo khi ngỗng đã béo vừa phải thì cho ăn các loại thức ăn ngon miệng để kích thích chúng ăn được nhiều, thức ăn trong giai đoạn sau cần có giá trị dinh dưỡng cao, thức ăn chủ yếu dùng để vỗ là bắp hạt vàng ngâm qua đêm, có thể cho thêm một chút muối, ngoài ra có thể cho chúng ăn thêm cám, khoai trộn với rau xanh khoảng 20%. Ở giai đoạn giữa về cuối có thể cho ngỗng ăn thêm bột cá, bột đậu tương khoảng 8% ( nếu có) và cho thêm bí đỏ nạo để chúng ăn dễ. Thời gian vỗ béo của ngỗng khoảng 15 ngày là vừa, nếu dài hơn thì ngỗng ăn tốn mà tăng trọng chậm, vả lại khi ngỗng đã béo đẫy thì chúng chán ăn</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">+ Nhồi béo lấy gan: ở nước ta việc nhồi béo lấy gan chưa có tập quán, đến nay kỹ thuật này cũng mới chỉ áp dụng trong phạm vi thí nghiệm ở viện chăn nuôi…những kết quả bước đầu cho thấy chỉ nên dùng ngỗng Lăng và con lai của nó với ngỗng Rênan. Việc nhồi ngỗng lấy gan thường tốn quá nhiều bắp hạt nên hiện nay không có lợi trong thực tiễn, chỉ khi nào gan ngỗng béo có thể xuất khẩu với giá trị cao thì mới phổ biến kỹ thuật này.  </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>TS NGUYỄN XUÂN KHOA</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:27 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 19.063</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:27:17 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=107</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KỸ THUẬT CHĂN NUÔI THỎ - PHẦN I</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=108</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass423FDBA98DD8462287BF2C273BA8B5D1><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I/ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA VIỆC CHĂN NUÔI THỎ</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    1.</strong> Thỏ là một loại gia súc không tranh ăn lương thực với người và gia súc khác, nó có thể tận dụng được các nguồn sản phẩm phụ nông nghiệp, rau, lá, cỏ tự nhiên, sức lao động phụ trong gia đình, đầu tư ít vốn, quay vòng nhanh, phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu thấp, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẳn có, rẻ tiền để làm, chi phí mua con giống ban đầu so với các gia súc khác ít hơn rất nhiều và chỉ phải bỏ ra một lần đầu là có thể duy trì chăn nuôi liên tục. Vòng đời sản xuất của thỏ ngắn ( nuôi 3,0 – 3,5 tháng là giết thịt; 5,5 – 6,0 tháng bắt đầu sinh sản ) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>2.</strong> Thỏ đẻ khoẻ, phát triển nhanh, sản phẩm thỏ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu. Chăn nuôi thỏ có tác dụng cho việc thực hiện mô hình VAC trong kinh tế gia đình. Thỏ đẻ nhanh, một năm trung bình đẻ 6 -7 lứa, mỗi lứa 6 -7 con. Sau 3 tháng nuôi trọng lượng xuất chuồng 2.5 – 3.0 kg, như vậy một thỏ mẹ nặng 4 -5 kg một năm có thể sản xuất ra 90 – 140 kg thịt thỏ, cao hơn nhiều so với các loại gia súc khác.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Lông da thỏ sau khi thuộc xong, may thành mũ áo hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị lớn trong tiêu dùng và xuất khẩu. Ở Pháp 1 năm có 100 triệu tấm da thỏ trao đổi, giá trị thu từ lông da thỏ tăng thêm 30 -35%.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng nhiều làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc, chế vaccin trong y học và thú y.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Phân thỏ tốt hơn các loại phân gia súc khác, có thể sử dụng để bón cây, nuôi cá và nuôi trùn, lấy trùn nuôi gà, vịt, ngan, cá, lươn….
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Như vậy việc nuôi thỏ ở gia đình vừa tận dụng được phế phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng được sức lao động phụ, vừa đỡ tốn lương thực, lại cho ra một loại sản phẩm đặc biệt <em>( thịt, lông, da )</em> có giá trị tiêu dùng, y học, thú y và xuất khẩu. Ngoài ra sản phẩm phụ của nuôi thỏ góp phần tích cực tạo thế cân bằng cho trồng trọt và chăn nuôi theo công thức VAC trong kinh tế gia đình.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA THỎ</strong></span>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    1. Đặc điểm chung:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>-Thỏ là loại gia súc nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh. Khả năng thích ứng với môi trường ở mức 31- 48<sup>0</sup>C, trung bình là 39,5<sup>0</sup>C. Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp. Nếu nhiệt độ không khí tăng nhanh và nóng kéo dài trên 35<sup>0</sup>C thì thỏ thở nhanh để thải nhiệt, khi đó thỏ dễ bị cảm nóng.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thỏ thở rất nhẹ nhàng, không có tiếng động, chỉ thấy thành bụng giao động theo nhịp thở. Nếu thỏ khoẻ, trong môi trường bình thường thì tần số hô hấp 60 - 90 lần/phút. Nhịp đập của tim thỏ rất nhanh và yếu, trung bình từ 100 -120 lần/phút.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thân nhiệt, tần số hô hấp, nhịp đập của tim đều liên quan thuận với nhiệt độ không khí môi trường. Ở nước ta nhiệt độ môi trường thích hợp nhất với thỏ là là từ 20 - 28,5<sup>0</sup>C.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, thỏ mẹ có thể phân biệt được con khác đàn mới đưa đến trong vòng một tiếng bằng cách ngửi mùi. Cấu tạo khoang mũi rất phức tạp, có nhiều vách ngăn chi chít, lẫn các rãnh xoang. Bụi bẩn hít vào sẽ động lại ở vách ngăn. Kích thích gây viêm xoang mũi.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>- Thỏ rất thính và tinh:</em></strong> trong đêm tối thỏ vẫn phát hiện được tiếng động xung quanh và vẫn nhìn thấy để ăn uống bình thường.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>2. Một số đặc điểm sinh sản nuôi con:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Tuổi động dục ban đầu của thỏ thường vào lúc 2,5 tháng tuổi tùy giống và nuôi dưỡng. Thông thường sau khi động dục 2 chu kỳ mới phối giống, lúc này hệ thống sinh dục của thỏ cái phát triển hoàn thiện để đảm bảo cho việc chửa đẻ và nuôi con tốt, trọng lượng phải đạt 3 kg trở lên. Sau khi thỏ đẻ 1- 3 ngày lại động dục trở lại, sau đó chu kỳ động dục thường 12 -16 ngày, đôi khi không động dục trở lại hoặc thay đổi chu kỳ thất thường. Khả năng động dục phụ thuộc vào sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ… chỉ khi nào thỏ động dục thì mới chịu đực, sau khi giao phối 9 -10 giờ thì trứng mới rụng, đây là đặc điểm sinh sản khác hẳn với gia súc khác. Trên cơ sở đặc điểm này người ta sử dụng phương pháp phối giống bổ sung, phối lại lần thứ hai sau lần thứ nhất từ 6 - 9 giờ nhằm tăng thêm số lượng trứng được thụ tinh và đẻ nhiều con.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>- Thỏ đẻ:</em></strong> thời gian chửa 28 -30 ngày, nếu cho đẻ dày, thời gian chửa thường dài hơn từ 1-3 ngày. Bản năng tự nhiên của thỏ mẹ trước khi đẻ thường cắp, nhặt cỏ, lá vào ổ và nhổ lông, cào ổ trộn với đồ lót ổ làm thành tổ ấm mềm mại. Thỏ hay đẻ vào ban đêm, gần sáng. Có một số con không biết nhổ lông làm tổ, những con đó thường nuôi vụng. Thỏ đẻ từ 1-11 con, thường từ 6 - 9 con một lứa. Sau khi đẻ, con mẹ ăn hết nhau thai, trong đó có nhiều sinh tố và kích dục tố. Thỏ con sơ sinh chưa có lông, mẹ liếm sạch da toàn thân mình thỏ con và phủ lớp lông kín cả đàn.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thỏ con được một ngày thì mọc những sợi lông tơ, đến 3 ngày tuổi thì có lớp lông dày ngắn 1 mm, 5 ngày tuổi lông dài 5 - 6 mm và đến 20 -25 ngày tuổi bộ lông được phát triển hoàn toàn. Thỏ con mở mắt vào ngày thứ 9 -12 sau khi đẻ, đến ngày 15 -18 thỏ tập ăn và bỏ ổ.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Thỏ mẹ vừa có chức năng tiết sữa, vừa có khả năng dưỡng thai, cho nên mẹ đang nuôi con, vừa đẻ được 1-3 ngày cũng có thể phối giống được và chửa đẻ bình thường.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Sữa thỏ đậm đặc và có chất lượng tốt hơn sữa bò: lượng đạm, mỡ, khoáng nhiều gấp 3 - 4 lần. Thỏ khỏe, tiết sữa tốt mỗi ngày có thể sản xuất được 200 -280g sữa. Thỏ đẻ lứa dầu có ít sữa hơn các lứa sau. Trong một chu kỳ tiết sữa lượng sữa tăng dần kể từ sau khi đẻ, đến ngày thứ 15 -20 là cao nhất, sau đó giảm dần. Thời điểm cạn sữa phụ thuộc vào khả năng sản xuất sữa của thỏ mẹ và mật độ sinh đẻ: nếu đẻ liên tục ( phối ngay sau khi đẻ 1- 3 ngày) thì cạn sữa vào cuối tuần thứ 4; nếu đẻ bán liên tục ( phối sau đẻ 10 ngày ) thì cạn sữa sau 5 tuần; nếu đẻ thưa ( phối giống sau cai sữa ) thì 6 tuần mới cạn sữa. Còn khả năng sản xuất sữa ( nhiều hay ít ) phụ thuộc vào con giống và chế độ dinh dưỡng trong thời gian nuôi con, kể từ khi có chửa.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue"><strong>III/ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG BẤT THƯỜNG VỀ SINH SẢN</strong>.</span>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>1. Chửa giả:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>- Khi thỏ cái động dục, nếu có những tác nhân kích thích làm thần kinh hưng phấn như: thỏ cái nhảy lẫn nhau, con đực non nhảy mà không xuất tinh đều gây kích thích làm cho trứng rụng và hình thành điều tiết hóc môn ở cơ quan sinh dục cái, cản trở chu kỳ động dục tiếp theo. Như vậy thỏ cái cũng không động dục, không chịu đực, cũng nhổ lông, cào ổ, làm tổ đẻ như thỏ chửa thật. Để đề phòng hiện tượng chửa giả, cần nhốt riêng từng con thỏ hậu bị lúc 3 - 4 tháng tuổi trở lên, thỏ đực giống phải thành thục về tính dục, có khả năng thụ tinh thì mới cho phối giống.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>2. Vô sinh:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>        </strong>+ Thường biểu hiện ở hai dạng như lâu ngày không động dục và phối được nhưng không chửa liên tục. Dạng thứ hai ngoài nguyên nhân do con đực kém còn có một số nguyên nhân khác do con cái như:
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung bị mắc bệnh.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do nguồn thức ăn chất lượng dinh dưõng kém như thiếu sinh tố A, D, E, thiếu chất khoáng, muối ăn…
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do ăn quá nhiều tinh bột, giàu năng lượng dẫn đến thỏ béo quá, tích luỹ nhiều ở cơ quan nội tạng và sinh dục, thỏ không động dục hoặc không rụng trứng được.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do nuôi nhốt trong lồng quá chật trội, nhốt nơi ẩm thấp, tối tăm hoặc mùa hè nóng kéo dài, mùa mưa lạnh quá đều làm cho thỏ không động dục.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    + Nếu vô sinh do bệnh tật mà không điều trị được thì nên loại thải, nếu do môi trường dinh dưỡng thì cần khắc phục.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <em><strong>3.Sảy thai:</strong>
			</em>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    </em>Có thể do một số bệnh nội khoa trong thời gian có thai như bệnh Listennose, tụ cầu trùng, chướng hơi đầy bụng, cảm nóng…Ngoài ra xảy thai còn do tác động cơ học như khám thai không đúng thao tác, thô bạo làm thỏ sợ hãi đột ngột; hoặc do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý như ăn phải chất độc, thiếu chất dinh dưỡng làm thai chết yểu. Những con nào xảy thai nhiều lần cần loại thải.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>4. Ăn con:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Có một số con đẻ xong ăn con, có khi ăn hết cả đàn con, đó là sự rối loạn sinh lý sinh sản, thiếu nước chứ không phải bệnh lý. Khi thỏ đẻ, nhu cầu nước và khoáng gấp 3 - 4 lần lúc bình thường, đẻ xong mẹ thường liếm con cho khô, ăn nhau thai, nhưng do thiếu nước và chất khoáng nên mẹ ăn luôn cả con. Nếu ta không phát hiện và khắc phục kịp thời thì có thể thỏ mẹ trở thành thói quen ở lứa đẻ sau, lúc đó phải loại thải.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>5. Bới đàn con:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Sau khi đẻ xong, đôi khi con mẹ lại vào ổ bới phân tán đàn con khắp ổ đẻ, nhiều con bị xây xát da hoặc chấn thương ở đầu, mất chân, cụt tai, đuôi. Nguyên nhân do con mẹ bị ức chế thần kinh, hung dữ, nhảy lồng lộn trong chuồng cào bới ổ đẻ. Nếu con nào lặp lại hai ba lần thì cần loại thải.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>IV/ GIỐNG THỎ NGOẠI NHẬP HIỆN CÓ TẠI VIỆT NAM </strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    1. Thỏ </strong>N<strong>ewzealand White ( Tân Tây Lan trắng )</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>- Có nguồn gốc từ Newzealand nuôi phổ biến ở các nước Châu Au và Mỹ; trưởng thành con đực nặng 4,2 – 4,5 kg; con cái nặng 3,3 – 4 kg.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>Thỏ có đặc điểm ngoại hình:</em></strong> Lông dày, màu trắng tuyền, mắt hồng, khối lượng trưởng thành từ 5 -5,5 kg/con. Tuổi động dục lần đầu 4 - 4,5 tháng tuổi và tuổi phối giống lần đầu từ từ 5 - 6 tháng tuổi, khi đó khối lượng phối giống lần đầu đạt 3 -3,2 kg/con.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>2. Giống thỏ Panon:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Được nhập vào nước ta vào năm 2000 từ Hungari, giống thỏ này xuất phát từ một dòng của giống Newzealand trắng được chọn lọc nghiêm ngặt về khả năng tăng trọng và khối lượng trưởng thành tạo nên, vì vậy chúng có các đặc điểm giống như giống thỏ Newzealand nhưng tăng trọng cao hơn và khối lượng khi trưởng thành cũng cao hơn, đạt 5,5 - 6,2 kg/con. Giống thỏ này cũng đã được đưa ra chăn nuôi đạt kết quả tốt ở nhiều vùng nước ta.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>3. Giống thỏ California</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Có nguồn gốc ở Mỹ, được tạo thành do lai giữa thỏ Chinchila, thỏ Nga và thỏ Newzealand được nhập vào Việt Nam từ Hungari. Lần thứ nhất vào năm 1978 và lần thứ hai vào năm 2000. Đây là giống thỏ tầm trung cho thịt, khối lượng trung bình 4,5 -5 kg, tỷ lệ xẻ thịt 55-60%; thân ngắn hơn thỏ Newzealand, lông trắng nhưng tai, mũi, 4 chân và đuôi có điểm lông màu đen, màu mùa đông lớp lông màu đen này đậm hơn và nhạt dần vào mùa hè. Khả năng sinh sản tương tự như thỏ Newzealand. Giống này cũng đã được nuôi ở nhiều vùng trong cả nước ta.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>VI/ KỸ THUẬT LÀM CHUỒNG TRẠI</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Lồng chuồng nuôi thỏ có thể đặt dưới gốc cây có bóng mát ngoài vườn, đầu nhà có mái che, chống được mưa nắng hoặc có thể tận dụng các gian nhà trống để nuôi thỏ. Dù đặt ở đâu đều phải đảm bảo không khí thông thoáng, sạch sẽ, chống được gió lùa, mát mẻ về mùa khô, ấm áp về mùa mưa, quét dọn vệ sinh và thoát phân dễ dàng. Không nên đặt lồng thỏ trong chuồng heo, chuồng gà, vừa ngột ngạt, hôi thối lại dễ nhiễm độc và lây lan bệnh từ heo, gà sang thỏ.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Tùy vào điều kiện chăn nuôi, lồng chuồng nuôi thỏ có thể làm bằng các loại vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền như tre, trúc, gỗ, tận dụng phế liệu sắt thép hoặc trong điều kiện chăn nuôi thâm canh cao có thể hàn chuồng bằng sắt hoặc inox…
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    * <strong>Những điều kiện cơ bản khi làm chuồng phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:</strong>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong><em>- Thỏ hoạt động dễ dàng, thoải mái, không ảnh hưởng đến sức khoẻ.</em>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    - Dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng, ít tốn công khi cho ăn uống, chăm sóc, bắt thỏ.</em>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    - Thỏ không chui lẫn đàn, ra ngoài, động vật khác đặc biệt là chuột không chui được vào lồng cắn thỏ.</em>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    - Phải bền vững, chắc chắn rẻ tiền. Những phần hay bẩn, hay mòn và hư hỏng như đáy lồng, lưới cỏ, máng ăn, uống… phải dễ tháo ra lắp vào và thay thế được.</em>
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    </em>- Kích thước chuồng phải phù hợp với việc bắt thỏ, chăm sóc, vệ sinh và quan sát trạng thái sức khoẻ. Nếu làm lồng quá cao vừa khó chăm sóc, vừa bị gió lùa từ dưới lên bụng thỏ và thỏ không yên tĩnh vì sợ độ cao. Nếu làm ngăn lồng sâu và hẹp thì khó bắt thỏ, không đủ chỗ để gắn lưới cỏ, máng ăn vào lồng phía trước và khó quan sát thỏ khi chúng ăn. Quy cách lồng chuồng phù hợp nhất là ngăn lồng khối hộp chữ nhật đặt ngang, thành lồng cao 40 -50 cm, dài 90 cm, sâu 60 cm. Lồng 1 tầng nên làm nắp mở mặt trên. Có thể làm 2 ngăn lồng liền một khối 4 chân, lồng cao 50 - 60 cm. Mỗi ngăn nên nhốt 5 - 6 con sau cai sữa vỗ béo hoặc 2 con hậu bị giống hoặc 1 con thỏ giống sinh sản.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Nếu gia đình trật hẹp thì có thể làm lồng 2 tầng, cửa mở phía trước, dưới đáy tầng nên có khay hứng phân.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>+ <span style="text-decoration:underline">Đáy lồng chuồng</span>:</em></strong> là một trong những chi tiết quan trọng nhất, vì nó tiếp xúc trực tiếp đến thỏ, là điều kiện vệ sinh để tránh ô nhiễm lây lan mầm bệnh và gây bệnh. Đáy lồng phải nhẵn, phẳng, êm, không để đầu đinh, mối buộc hoặc vật liệu làm lồng nhô lên mặt đáy tránh làm sây sát da, loét gan bàn chân. Đáy lồng phải có khe hở, lỗ thoát phân, nước tiểu dễ dàng, ít thấm nước và tháo ra lắp vào được. Ở gia đình, tốt nhất là làm đáy bằng các thanh tre hoặc gỗ cứng vót, bào nhẵn có bản rộng 1,4 – 1,5 cm, kết thành phên có khe hở 1,25 cm. Nếu đáy làm bằng lưới thép mắt cáo, ô vuông phải là loại dày 2,5 cm, lỗ lưới rộng 1,25 x 1,25 cm. Đáy lưới phải có thêm bệ nằm bằng miếng gỗ mỏng nhẹ đặt vào nửa đáy phía trong để thỏ nằm yên tĩnh.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    +<strong><em>
					<span style="text-decoration:underline">Máng thức ăn tinh:</span> c</em></strong>ó thể làm bằng vật liệu khác nhau như sành sứ, xi măng, gỗ, tôn,…Nếu làm bằng vật liệu nhẹ thì phải làm móc hoặc dây buộc rá vào thành lồng phía trước để thỏ không làm lật đổ được. Kích thước máng ăn phù hợp là khối hộp chữ nhật dài 35 - 40 cm để đủ chỗ cho cả đàn cùng ăn, nhưng chỉ làm hẹp miệng khoảng 10 -12 cm để thỏ không nằm vào máng ăn được, chiều cao của máng là 6 -8 cm, miệng máng nên làm gờ hoặc uống cong vào phía trong để tránh thỏ bới thức ăn ra ngoài.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>+<span style="text-decoration:underline"> Dụng cụ uống nước</span>:</em></strong> có thể làm bằng sành, sứ hoặc đổ xi măng hình chậu cao 8 –10 cm, miệng rộng 10 –15 cm để thỏ không dẫm chân vào và không lật đổ được. Để giữ vệ sinh được nước uống, có thể làm van nước bằng ống kim loại hoặc thủy tinh dày cắm vào nút chai, nút can dốc ngược, có giá giữ vào thành lồng để thỏ hút liếm được nước. Hoặc làm khay nước có chai nước dốc ngược.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>+ <span style="text-decoration:underline">Máng thức ăn thô</span>: </em></strong>phải được thiết kế sao cho thỏ tự rút rau lá cỏ dể ăn được, nhưng không cào bới vào đáy lồng hoặc không chui vào dẫm nát, làm bẩn thức ăn. Nên đặt máng thức ăn thô ra ngoài ngăn lồng, gắn vào một bên thành lồng phía trước, so le với vị trí đặt máng thức ăn tinh ở phía trong.
</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>+<span style="text-decoration:underline">Ổ đẻ:</span></em></strong> phải đảm bảo ấm, kín gió, có bóng tối, mẹ vào cho bú dễ dàng thoải mái và đặc biệt phải chống được chuột vào ăn thỏ con. Nên làm ổ đẻ bằng gỗ mỏng nhẹ hoặc cót ép dày được quét sơn phẳng nhẵn, có khung nẹp chắc chắn dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng. Ổ đẻ là khối hộp chữ nhật kích thước dài 45 cm, rộng 30 cm, cao 25 cm. Mặt trên ổ đẻ được đóng kín cố định một nửa, còn nửa đầu kia làm cửa ra vào của thỏ có nắp đậy bằng lưới kim loại hoặc phên tre thưa 1,5 cm mở đóng cơ động dễ dàng. Với ổ đẻ này, thỏ con dưói 15 ngày tuổi không nhảy ra ngoài được, làm giảm tỷ lệ chết do tác động của ngoại cảnh. Có thể dùng rổ bằng mủ dạng đựng khay chén uống nước để làm ổ đẻ cho thỏ.
</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:27 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.589</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:27:41 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=108</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass64AA34251115453C8F41F5E21761FF3D><p style="background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Bên cạnh súng phòng không và pháo cao xạ, &quot;én bạc&quot; MiG-21 và &quot;rồng lửa Thăng long&quot; SA-2 là hai loại vũ khí chủ lực đập tan niềm tự hào của không lực Mỹ, làm nên chiến thắng vang dội địa cầu. <br>Tiêm kích đánh chặn MiG-21</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">MiG-21 là máy bay tiêm kích phản lực siêu âm do Liên Xô thiết kế phát triển vào những năm 1950. Vào thời điểm bấy giờ, MiG-21 là một trong những tiêm kích cơ hiện đại nhất thế giới. Chúng đã tham gia phục vụ ở gần 50 quốc gia trên thế giới, cho tới ngày nay vẫn có nhiều nước tiếp tục sử dụng MiG-21 như Việt Nam, Ấn Độ, Cu ba, Trung Quốc (biến thể J-7 do Trung Quốc tự sản xuất).</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Liên Xô viện trợ loại tiêm kích này cho Việt Nam vào năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đang ở giai đoạn rất quyết liệt.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tiêm kích MiG-21 thiết kế theo kiểu cánh tam giác, có hình dáng gần giống một mũi tên, được trang bị hệ thống điện tử khá đơn giản bao gồm:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Thiết bị nhận diện bạn và thù (identification, friend or foe – IFF) dùng để nhận biết các loại máy bay, xe cộ thuộc quân ta hay đối phương. IFF xác định vị trí khoảng cách. MiG-21 hầu hết trang bị IFF SRZO-2 &quot;Khrom-Nikel&quot;.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Thiết bị thông tin liên lạc RSIU-5, trừ một số phiên bản đời đầu như MiG-21F-13 trang bị R-802. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Radar cảnh báo trên MiG-21 chủ yếu là SPO-2.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Kính ngắm cho súng máy ASP-5 (phiên bản đời đầu MiG-21F-13, MiG-12F), PKI cho các bản tiếp sau.<br>Ngoài ra, một thiết bị không thể thiếu trên máy bay chiến đấu là radar điều khiển hỏa lực. Các máy bay MiG ngoài các mẫu đời đầu, thường được trang bị radar RP-21 &quot;Saphir&quot;. Trên lý thuyết loại radar này phát hiện mục tiêu ở khoảng cách 20km và khóa mục tiêu ở cực ly 10 km. Tuy nhiên, thực tế con số này lần lượt ở mức 13 km và 7 km.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Các phiên bản MiG-21 trang bị vũ khí chủ yếu là hai tên lửa không đối không tầm nhiệt Vympel K-13 có tầm bắn khoảng 8 km. Vũ khí phụ là pháo 23 hoặc 30 mm.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">MiG-21 sử dụng động cơ phản lực đốt nhiên liệu hai lần Tumansky R-11-300, cho phép tiêm kích này đạt tốc độ lên tới 2.500 km/h (Mach 2,5), tầm hoạt động khoảng 1.500 km, trần bay gần 20.000m.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Không quân nhân dân Việt Nam lúc đó được viện trợ các loại MiG-21F-13/PF/PFM/MF. Trong chiến dịch Linebacker II, không quân Việt Nam đã lập nên kỳ tích bắn rơi hai pháo đài bay B-52. Một &quot;kỷ lục&quot; mà cho tới tận ngày nay vẫn chưa có quốc gia nào trên thế giới làm được.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0840_Cncnquns1.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai người anh hùng đó là phi công Phạm Tuân lái một chiếc Mig-21MF (trang bị radar RP-22) bắn rơi B-52 vào đêm 27/12/1972. Phạm Tuân sau này đã trở thành người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên vũ trụ cùng với nhà du hành vũ trụ Gorbatko trên con tàu Soyuz 37.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người phi công thứ hai là Vũ Xuân Thiều, bắn hạ một chiếc B-52 đêm 28. Anh anh dũng hy sinh khi dùng máy bay làm &quot;viên đạn thứ ba&quot; đâm thẳng vào B-52, sau khi bắn hai tên lửa mà chưa tiêu diệt được địch.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, trước đó, phi công Vũ Đình Rạng từng bắn bị thương một B-52 vào ngày 20/11/1971. Tổng kết sau 12 ngày đêm, không quân MiG-21 đã xuất kích 24 lần bắn rơi 7 máy bay địch (trong đó có hai B-52)<br><strong>Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">SA-2 (theo tiếng Nga gọi là C-75) là hệ thống tên lửa đất đối không tầm trung, tầm cao do Liên Xô phát triển từ những năm 50. SA-2 được triển khai chủ yếu ở các quốc gia thuộc khối Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0840_Cncnquns2.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Việt Nam được Liên Xô viện trợ cho loại tên lửa này. Ngày 24/7/1965, bộ đội tên lửa Việt Nam đã tham gia đánh thắng trận đầu bắn rơi một chiếc F-4 trên bầu trời miền Bắc. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ đó tới chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, tên lửa phòng không Việt Nam tham gia bắn hạ hàng trăm máy Mĩ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2 bao gồm các thành phần:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">-Tên lửa V-750 là loại tên lửa hai tầng gồm một tầng phóng chứa nhiên liệu rắn và một tầng chứa nhiên liệu lỏng. Bộ phận phóng hoạt động trong khoảng 4-5 giây, động cơ chính vào khoảng 22 giây. V-750 lắp một đầu đạn 200 kg HE-phá mảnh. Khi cách mục tiêu khoảng 60m thì đầu đạn tự nổ bung ra 12.000 mảnh vụn. Tên lửa có tầm bắn 45km, độ cao bay trên 20 km.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Radar điều khiển hỏa lực FAN SONG, tầm phát hiện mục tiêu khoảng 60 –120km đối với phiên bản A/B và 75-145km (phiên bản E/F/D). Radar có khả năng quét theo dõi đồng thời sáu mục tiêu cùng lúc. Radar FAN SONG kết hợp với hệ thống tên lửa SA-2 và radar bắt mục tiêu SPOON REST. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Radar bắt mục tiêu và cảnh báo SPOON REST có tầm hoạt động khoảng 275 km.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Radar đo độ cao SIDE NET, độ cao tìm kiếm từ 28 - 32 km.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Radar cảnh báo sớm KNIFE REST, tầm hoạt động khoảng 250 km. Loại này chỉ được trang bị ở một số phiên bản đời đầu của hệ thống SA-2.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0840_Cncnquns3.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0840_Cncnquns4.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một tiểu đoàn tên lửa SA-2 thường được bố trí theo kiểu hình hoa, 6 bệ phóng bố trí ở xung quanh các hệ thống radar điều khiển và dẫn đường.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một điểm đáng lưu ý nữa, có một số nguồn tin lâu nay cho rằng tên lửa SA-2 trong chiến tranh Việt Nam đã được cải tiến nối tầng nâng tầm bắn. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải, bởi tên lửa SA-2 có thể hạ mục tiêu ở độ cao trên 20.000m trong khi trần bay tối đa của B-52 chỉ là 15.000 - 17.000m (khi bay ném bom độ cao bay 10.000m). Trên thực tế, chất bộ đội ta đã cải tiến các thiết bị radar để &quot;vạch nhiễu tìm thù&quot; bắt B-52 đền tội.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0840_Cncnquns5.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong chiến dịch cuối năm 1972, tên lửa SA-2 đã bắn rơi được 29 chiếc B-52, riêng Hà Nội bắn rơi 25 chiếc. Đây là một &quot;cú sốc&quot; đối với không lực Mỹ, bởi chúng coi B-52 là pháo đài bay không thể xâm phạm, được bảo vệ bởi nhiều loại máy bay gây nhiễu chủ động, bị động. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với ý chí kiên cường, sáng tạo, anh dũng, quân và dân Thủ đô đã hạ đo ván con &quot;ngáo ộp&quot; này trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Buộc đế quốc Mỹ phải quay trở lại bàn đám phán ở Paris để ký kết hiệp định lập lại hòa bình ở Việt Nam. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:right;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo: <em>Lê Nam (tổng hợp) - www.baodatviet.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 3:41 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.323</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 08:41:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC6BA6EF131464A45BD214F240B5E9887><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Trong chiến dịch Linebacker II, Mỹ đã đưa lượng lớn &quot;pháo đài bay&quot; B-52, được coi là &quot;thần tượng của không lực Mỹ&quot; có tầm bay xa, mang nhiều bom, với sức hủy diệt lớn.</strong><br><em>B-52 Stratofortress </em>(Pháo đài bay) là máy bay ném bom chiến lược tầm xa của không quân Mỹ. Đi vào hoạt động năm 1955, B-52 đã trở thành niềm tự hào của ngành công nghiệp quốc phòng của siêu cường này.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với chiều dài gần 50m, cao 12,4m, sải cánh 56,4m, trọng lượng cất cánh tối đa trên 200 tấn. B-52 được xem là máy bay ném bom lớn nhất trên thế giới lúc đó.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hình dáng của B-52 khá giống với mẫu máy bay ném bom chiến lược B-47 Stratojet. Tất cả bộ phận cánh, vị trí đặt động cơ, bộ phận bánh đáp đều gợi cho người ta nhớ tới những chiếc B-47. Tuy nhiên, xét trên mọi mặt, B-52 vẫn to lớn hơn và nặng hơn &quot;người tiền nhiệm&quot;.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để nâng &quot;con quái vật&quot; này lên bầu trời, Boeing đã trang bị cho nó 8 động cơ phản lực cánh quạt đẩy Pratt &amp; Whiteney TF33-P-3/103 giúp B-52 đạt tốc độ 1.000km/h, tầm hoạt động 12.000km, trần bay 15.000m.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0837_Cncnquns1.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">B-52 được điều khiển bởi một kíp lái 6 người gồm: chỉ huy, phi công, sĩ quan phụ trách radar, sĩ quan dẫn đường, sĩ quan tác chiến điện tử và một xạ thủ súng máy ở phía đuôi máy bay.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mỗi chiếc B-52 có thể chứa khoảng 100 quả bom đặt trong khoang bom và giá treo trên cánh. Số lượng đó tương đương với 30 tấn. Ngoài ra, còn có tháp pháo đuôi trang bị pháo M 61 &quot;Thần lửa&quot; cỡ 20mm dùng để bắn máy bay hoặc tên lửa.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tất cả những điều trên đã làm cho B-52 trở thành &quot;thần tượng của không lực Mỹ&quot;. Vì thế, với tham vọng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1965, Mỹ đã đem B-52 tới Việt Nam tham chiến. Hầu hết các máy bay B-52 đều cất cánh từ hai sân bay Utapao (Thái Lan) và Anderson (Guam).</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong chiến dịch Linebacker II năm 1972, bên cạnh các loại máy bay chiến đấu chiến thuật thì B-52 chính là &quot;quân át chủ bài&quot; mà Tổng thống Nixon tung ra hòng &quot;đưa miền bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá&quot;, tạo thế thuận lợi trên bàn đàm phán hiệp định Paris. Để thực hiện mưu đồ này, chúng đã huy động 193 chiếc B-52D/G (chiếm gần 50% số B-52 mà Mỹ có). </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong đó:</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- <strong>Phiên bản B-52D </strong>không có quá nhiều sự thay đổi, ngoài việc nó đã được cải tiến để mang được một lượng bom lớn hơn thông thường phục vụ cho các chiến dịch ném bom rải thảm.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0837_Cncnquns2.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- <strong>Phiên bản B-52G </strong>có hai sự thay đổi lớn nhất là: trọng lượng tăng thêm từ 200 tấn lên 221 tấn và thay thế động cơ mới Pratt &amp; Whiteney J57-P-43W. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, có một số điểm thay đổi là thiết kế lại phần cánh cung cấp thêm giá treo bên ngoài cho hai thùng nhiên liệu 2.650 lít; phần đầu máy bay chứa radar được mở rộng. Đối với hệ thống điện tử trên máy bay, ngoài các thiết bị tiêu chuẩn thì nó trang bị mới radar điều khiển hỏa lực AN/ASG-15, cải tiến công nghệ gây nhiễu điện tử.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0837_Cncnquns3.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về trang bị vũ khí, ngoài khối lượng bom thông thường, những chiếc B-52G được trang bị một động cơ phản lực Pratt &amp; Whiteney J52, sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính và mang thêm loại tên lửa hành trình không đối đất AGM-28 Hound Dog (chó săn). </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu AGM-28 bay tầm cao ở tốc độ siêu âm thì tầm bắn lên tới 800km, còn bay ở tầm thấp và tốc độ cận âm thì tầm bắn giảm xuống còn trên 300km. Tên lửa AGM-28 có khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lớp hỏa mù che đậy hành tung B-52</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">B-52G mang được bốn quả tên lửa &quot;mồi bẫy&quot; ADM-20 Quail (chim cút). Đây là loại vũ khí có khả năng đánh lừa được radar địch, thu hút tên lửa tầm nhiệt K-13 của MiG-21 về phía mình bảo vệ cho B-52G. Tên lửa sử dụng một động cơ phản lực Pratt &amp; Whiteney J85, tầm bắn khoảng 700km, tốc độ Mach 0.9.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:center;background:white"><img src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0837_Cncnquns4.gif" alt=""><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tuy nhiên, những trang bị trên chưa đủ để B-52 vượt qua được lưới lửa phòng không miền Bắc hay &quot;rồng lửa&quot; SAM-2. Không quân Mỹ đã trang bị thêm cho &quot;con ngáo ộp&quot; này 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, hai máy gây nhiễu tiêu cực và hai máy thu tần số radar đối phương. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn bộ hệ thống máy gây nhiễu điện tử tích cực của B-52 đều do sĩ quan tác chiến điện tử phụ trách, các thiết bị này sẽ tự động thu và phân tích tần số sóng radar đối phương, sau đó sĩ quan phụ trách sẽ lựa chọn phát tần số sóng để chế áp đài radar đối phương. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bên cạnh đó, B-52 còn nhận được sự hỗ trợ từ các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66, EC-121 và kể cả từ các chiến đấu cơ F-4, F-105, A-6, A-7 đều được lắp đặt thiết bị gây nhiễu điện tử tích cực.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, không quân Mỹ còn áp dụng cả phương thức gây nhiễu tiêu cực là các &quot;quả bom&quot; chứa hàng triệu triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng, nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu).  Những sợi nhiễu này còn được thả từ các tốp F-4,  khi gặp sóng radar sẽ phản xạ hiển thị trên màn hình theo dõi thành các chấm nhỏ li ti che giấu mục tiêu thật. Tất cả được kỳ vọng sẽ hình thành một hành lang an toàn cho B-52 xâm nhập bầu trời thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đắc ý với những vũ khí siêu hiện đại như vậy, không quân Mỹ hoàn toàn tự tin cho một chiến thắng. Nhưng chúng đã lầm, với ý chí quật cường, lòng quyết tâm cao độ quân dân miền bắc đã bẻ gãy chiến dịch Linebacker II làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không lẫy lừng. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong 12 ngày đêm (từ 18 tới 30/12), lực lượng phòng không - không quân miền bắc đã bắn hạ 81 máy bay. Trong đó, có 34 chiếc B-52. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:right;background:white"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><em>(còn tiếp)</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo:<em> Lê Nam (tổng hợp) - www.baodatviet.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 3:38 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 883</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 08:38:58 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KỸ THUẬT NUÔI ẾCH SINH SẢN</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=113</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass905EC6C79A1A48ED826DAE718C9630D0><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I-ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐẶC TÍNH SINH SẢN CỦA ẾCH</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>1- Đặc điểm sinh học</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch là loài sống lưỡng cư, lúc sống dưới nuớc, lúc sống trên cạn, chúng di chuyển dưới nước bằng cách bơi do chi có màng bơi, trên cạn chúng di chuyển bằng cách nhảy, có thể nhảy cao tới 1 m; do đó khi nuôi phải có tường bao chắn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch có phổi , nhưng kém họat động, chúng hô hấp chủ yếu qua da, dưới da có nhiều túi chất nhờn, nếu độ ẩm thấp, da khô ếch sẽ chết; do đó ếch sống nơi ẩm ướt, có bóng mát, bụi dậm, khi vận chuyển phải lót bèo lục bình giữ ẩm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đối với ếch đồng, mùa khô ếch sống trong hang để tránh nhiệt độ cao và nắng làm khô da, mùa mưa mới chui ra sinh sản và sinh sống; chúng sinh sản theo mùa.Do đó muốn sinh sản nhân tạo phải tạo môi trường nhân tạo như dùng vòi phun nước vv…</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mắt ếch kém, chỉ phát hiện các loại mồi sống( mồi động như côn trùng, muỗi vv..), chúng bắt mồi bằng lưỡi, vì vậy khi câu ếch người ta dùng các loại mồi có màu sắc như màu đỏ( dùng đoạn nhựa nylon dài 2cm, rộng 0,2cm, cột vào dây gân để câu ếch con làm giống); tuy nhiên ếch có thể ngửi mùi khá nhạy, vì vậy chúng ta có thể tập cho ếch ăn thức ăn tĩnh( thức ăn tự chế) ếch ngửi mùi để tìm thức ăn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch nghe tiếng động rất tinh, vì vậy nơi nuôi ếch phải yên tĩnh, nếu không sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch ít vận động, nhất là ban ngày, nhưng ban đêm chúng hoạt động nhiều hơn, chủ yếu kiếm ăn vào ban đêm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hoạt động của ếch và nòng nọc chia làm 2 pha trong 1 ngày, đêm: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Pha hoạt động bắt đầu khoảng 19 giờ cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Cường độ hoạt động cao nhất thường vào lúc 20 giờ đến 23 giờ và giảm dần cho đến sáng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Nòng nọc hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mạnh nhất từ lúc 5 giờ đến 9 giờ30 và 16 đến19 giờ. Sự nghỉ ngơi của nòng nọc thể hiện ở chỗ chúng nằm sâu trong ao, bơi lội chậm và tập trung thành từng đám ở gần bờ hoặc ẩn dưới dễ các đám rau, bèo.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 2- Tập tính sinh sản và sự phát triển của phôi ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>a- Tập tính sinh sản</strong>.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đầu mùa mưa là mùa sinh sản của ếch, chúng bắt cặp nhau vào khoảng nửa đêm, chúng thụ tinh ngoài, con cái đẻ trứng, con đực ôm con cái và tưới tinh trùng vào trứng, trứng đóng thành đám nhờ lớp màng nhày, vì vậy cá không ăn được trứng ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch đực khác ếch cái ở các đặc điểm sau: ếch đực có 1 túi kêu dưới má nhỏ bằng hạt bắp, nhăn nheo màu vàng xậm, ếch cái không có túi kêu; ếch đực có chai tay ở ngón tay thứ nhất bàn tay trước như giác bám để ôm ếch cái khi sinh sản; ếch đực đầu nhỏ, bụng thon và trọng lượng nhỏ hơn ếch cái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thời vụ sinh sản: Ếch sinh sản tự nhiên rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 8 ; mùa khô ếch thường nghỉ đẻ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Số lứa đẻ của ếch cái từ: 2 - 3 lứa/ năm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Điều kiện đẻ trứng: Nhiệt độ từ 25 – 300C, sau những trận mưa rào, có hồ nước ngọt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Tập tính đẻ trứng: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Trước khi giao phối: Từ 2 – 4 đêm trước khi giao phối ếch đực đã cất tiếng &quot; Ộp ộp ẹp ẹp&quot; gọi ếch cái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            +Ếch đực ôm ếch cái ngang ngực. Chúng ôm nhau đến hàng giờ. Sau đó ếch cái phóng trứng, ếch đực phóng tinh dịch( sự thụ tinh ngoài).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Trứng thụ tinh có đường kính 2mm. Mỗi trứng có 2 cực: cực động vật màu đen xoay lên phía trên. Cực dinh dưỡng màu trắng ngà xoay xuống phía dưới. Các trứng nằm trong khối chất nhầy phồng trong nước làm thành những màng trong suốt bảo vệ cho trứng khỏi bị những va chạm cơ học, làm cho những động vật khác khó nuốt; cũng như tăng cường độ tụ quang các tia nắng mặt trời làm tăng nhiệt độ bao quanh trứng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>b-Sự phát triển của phôi ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Nòng nọc mới nở và giai đoạn mang ngoài:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Khi mới nở nòng nọc ếch chưa hình thành đầy đủ, có đuôi đơn giản, đầu và thân chưa phân biệt rõ, miệng chưa hình thành, chỉ có cơ quan bám hình chữ V hay bán nguyệt, nhờ đó nòng nọc bám vào chất nhầy chung quanh trứng hoặc vào các cây thủy sinh. Sau đó mang ngoài màu đỏ phân nhánh xuất hiện rõ ở hai bên cổ, khi đó chúng bắt đầu bơi lội được như cá nhờ sự phát triển của vây đuôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Giai đoạn mang trong.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Mang ngoài tiêu biến xuất hiện 2 lớp da phát triển về phía sau che lấp mang ngoài. Sau cùng lớp da đó kết hợp với nhau để lộ ra lỗ thở nằm ở phía bên trái của đầu. Dưới lớp da kể trên, trên các cung mang xuất hiện các lá mang. Vì các lá mang không lộ ra ngoài mà bị che phủ bởi lớp da, nên được gọi là mang trong. Mang trong tồn tại đến giai đoạn cuối của sự biến thái. Cơ quan bám ở giai đoạn này đã tiêu biến và thay thế vào đó là miệng hình phễu có mỏ sừng và nhiều hàng răng nhỏ ở môi gọi là răng môi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Giai đoạn xuất hiện chi sau.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Chi sau thoạt đầu chỉ là mấu lồi ở 2 bên thân phía trước lỗ hậu môn. Sau đó chúng phát triển dần các phần của một chi hoàn chỉnh, thoạt đầu chi sau, khi mới xuất hiện chưa hoạt động. Khoảng một tuần sau chúng mới hoạt động và giúp cho nòng nọc bò được ở trên nền đáy.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Giai đoạn xuất hiện chi trước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Khác với chi sau, chi trước sau khi xuất hiện chúng hoạt động ngay. Nòng nọc ở giai đoạn này có thể bò được lên trên bờ, song chúng vẫn chỉ loanh quanh bên bờ hồ nước. Sự xuất hiện chi trước gắn liền với sự tiêu biến vây đuôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>II- ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ẾCH.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>1- Đối với ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Những điều kiện cơ bản quyết định sự sống của ếch là: Khí hậu nóng nhiệt độ thích hợp 25 – 280, độ ẩm không khí cao, ẩm độ thích hợp nhất 80%, có vực nước ngọt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ngưỡng nhiệt độ đối với sự sống của ếch: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Nhiệt độ ếch bị tử vong: 0<sup>o</sup>C</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Nhiệt độ ếch bị lạnh cóng: 8 - 90<sup>o</sup>C</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Nhiệt độ ếch bị tê liệt vì nóng: 400<sup>o</sup>C</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Nhiệt độ cao làm ếch bị tử vong: 500<sup>o</sup>C</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nồng độ muối trong nước chỉ cần khoảng 1% cũng đủ làm cho nòng nọc và đa số ếch bị tử vong.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>2-Đối với nòng nọc.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nhiệt độ nước thay đổi: 25 – 300<sup>o</sup>C.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Độ PH 6,8 – 7,5.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Điều kiện thức ăn đầy đủ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nước không bị ô nhiễm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>III-KỸ THUẬT NUÔI ẾCH THỊT.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 1-Chọn địa điểm nuôi</strong>.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Có thể nuôi ếch trong ao hay mương vườn, diện tích từ 50 – 100m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nơi nuôi ếch phải gần nguồn nước sạch, chủ động cấp và thoát nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Xung quanh ao nuôi ếch phải có tường hay bao chắn cao 1,2m trở lên.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Bố trí khu vực trong ao có lục bình hay rau muống, chiếm tối đa 1/3 diện tích mặt nước cho ếch trú ẩn khi cần thiết.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>2- Thiết kế hồ, ao, mương nuôi ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0929_KTHUTNUI1.gif" alt="">Hiện nay có 3 dạng nuôi ếch: dạng xây hồ bằng xi măng hay hồ đắp bờ bằng đất phủ bạt xanh nuôi ếch theo kiểu công nghiệp; dạng nuôi ếch trong rèo bằng lưới Nylon như ươm cá giống và dạng nuôi trong ao mương theo kiểu quảng canh cải tiến.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>a-Dạng nuôi trong hồ xi măng hay hồ đất.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Xây hồ bằng gạch ống hay đắp bờ bằng đất phủ bạt xanh có chiều rộng khoảng 3 m, dài khoảng 4 m, tường cao 1m; nuôi được 1000con. Trong hồ dùng lưới chia làm 2 – 3 ô để tách ếch lớn nhỏ nuôi riêng nếu không chúng sẽ ăn thịt nhau.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        -Hồ có mực nước sâu 0,3 – 0,4m, có van xả nước, để mỗi tuần thay nước khoảng 2 lần.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trong hồ làm sàn bằng phên tre hay ván gỗ mỏng hay miếng mút thả nổi trên mặt nước đặt thức ăn vào đó để ếch lên ăn. để ếch có chỗ nhảy lên nghỉ ngơi;</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Treo bóng đèn điện vào ban đêm cách mặt nước khoảng 0,5m để ếch bắt côn trùng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>b-Dạng nuôi trong rèo bằng lưới Nylon</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Dùng loại lưới chỉ xanh hoặc lưới nylon có kích cỡ mắt lưới khoảng 0,5cm càng tốt, may vào nhau như chiếc mùng quay ngược, dài khoảng 4m, rộng khoảng 3m, chiếu sâu khoảng 1,2m. Nuôi được 1.000con. Trong cũng ngăn chia ra làm 2- 3 ô bằng lưới.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Dùng một miếng mút có kích thước rộng 1m, dài 2m, đặt ở giữa và dưới đáy chiếc rèo trước khi thả xuống ao, để ếch nhảy lên đó ăn và nghỉ ngơi. hai bên võng xuống có độ sâu của nước khoảng 0,3 – 0,4m, để ếch hụp lặn vận động.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đóng cọc để cố định rèo cho chắc chắn, lấy dây kìm cột chặt đáy vào các cây cột để gió không làm bay rèo hoặc xáo trộn mạnh ảnh hưởng đến ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Lúc ếch còn nhỏ trên mặt rèo căng lưới mắt thưa để phòng chống chim bắt ếch con</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ban đêm cũng treo bóng đèn điện để dẫn dụ côn trùng làm thức ăn cho ếch, treo bóng đèn cao 0,5 m so với mặt nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>c-Dạng nuôi trong ao, mương vườn.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ao có mực nước sâu 0,5 – 1m. Tường hoặc lưới rào phải cách bờ ao một khoảng từ 1- 1,5m, để ếch có chỗ nhảy lên nghỉ ngơi và bắt côn trùng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Làm sàn bằng phên tre hay ván gỗ mỏng thả nổi trên mặt nước đặt thức ăn vào đó để ếch lên ăn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trước khi thả ếch giống phải bơm cạn nước ao, sên vét bùn đáy, vệ sinh ao sạch sẽ, gia cố bờ. Sau đó cho nước vào ao với mực nước sâu từ 0,4 – 1m và thả bèo lục bình, rau muống, rau ngổ để vừa tạo bóng mát vừa là nơi chú ẩn cho ếch( bèo chiếm 1/3 diện tích mặt nước).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Dưới ao có thể nuôi cá trê, rô phi để tận dụng thức ăn thừa và chất thải của ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>3- Thả giống.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Chọn ếch giống cỡ 5 – 10g/con( 100 – 200con/kg), khỏe mạnh ít bị sây sát, không dị tật, tương đối đồng đều.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nên chọn mua giống từ những cơ sở nhân giống ếch đã được thuần dưỡng, quen ăn mồi tĩnh chế biến.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mật độ thả tùy từng loại ao và điều kiện chăm sóc, có thể thả từ 20 – 30 con/m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>4- Cho ăn.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Lúc ếch còn nhỏ lên cho ăn thức ăn công nghiệp dạng viên loại dùng cho cá da trơn có thể là thức ăn của hãng Cargil( Mỹ) hay CP( Thái Lan) loại T503</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn có độ đạm giảm dần theo ngày tuổi của ếch. Cụ thể như sau: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Ếch từ 1 - 10 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 40% đạm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Ếch từ 10 - 25 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 28% đạm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">            + Ếch trên 25 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 26% đạm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ngoài những loại thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao nuôi như côn trùng….Cho ếch ăn thêm thức ăn chế biến như: bột hoặc gạo, cám mịn nấu chín để nguội( 80%) trộn với bột cá hoặc cá tạp, cua, tép, ốc….xay nhỏ( 20%). Có thể trộn thức ăn sống cho ếch ăn, nhưng phải trộn men tiêu hóa vào thức ăn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn được vãi đều trên tấm nylon hoặc ván gỗ thả nổi trên mặt ao để ở vị trí cố định, gần nơi ếch lên bờ ăn mồi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Lượng thức ăn hàng ngày bằng 8 - 10% trọng lượng đàn ếch, cho ăn ngày 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Vệ sinh sàn ăn sạch sẽ trước khi cho ăn để tránh bệnh đường ruột đối với ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Để tăng thức ăn cho ếch có thể bố trí đèn để bẫy châu chấu và các loại côn trùng khác, hoặc tạo một ô nuôi trùn Quế làm thức ăn bổ sung cho ếch hay dưới ao thả cá Rô Phi, định kỳ đánh tỉa chế biến làm thức ăn cho ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>5-Chăm sóc và quản lý.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hàng ngày theo dõi hoạt động của ếch như: sức ăn, mức tăng trọng, khả năng linh hoạt bắt mồi, các dấu hiệu bệnh, chất lượng nước…để xử lý kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Ếch là đối tượng dễ bị địch hại sát hại như: mèo, chuột, rắn, chim, gà, vịt, lươn, cá lóc vv…vì vậy cần tìm cách tránh các đối tượng này làm hại ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Kiểm tra thức ăn của ếch hàng ngày để có sự điều chỉnh hợp lý, không để thức ăn dư thừa lãng phí, gây ô nhiễm môi trường nước. Nếu thấy ếch kém ăn phải tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>6- Thu hoạch và vận chuyển ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Đối với ếch đồng cỡ 5 - 10g/con, nuôi 3 - 4 tháng ếch đồng chỉ đạt trọng lượng 150 - 200g/con; giống ếch xanh của Thái Lan nuôi sau 3,5 – 4 tháng đạt bình quân 0,5kg/con, có thể thu hoạch ếch thương phẩm. Dùng lưới có cỡ mắt lớn( a8 – a15) để thu hoạch ếch. bắt ếch vào sáng sớm hay chiều mát.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Vận chuyển ếch bằng thùng hay khay cao 20cm, dưới đáy lót bèo lục bình, xung quanh và lắp đậy có lỗ thông khí.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Trước khi vận chuyển gom ếch lại cho quen với môi trường trật hẹp và ngưng cho ăn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Mật độ ếch khi vận chuyển đảm bảo 30 - 50kg/m2 thùng, không để ếch chồng chất lên nhau và phải giữ ẩm độ thích hợp cho ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>IV- KỸ THUẬT NUÔI ẾCH SINH SẢN.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>1- Thiết kế ao nuôi ếch bố, mẹ.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Địa điểm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Thường ngăn hồ nuôi ếch làm 2 ngăn: một ngăn nuôi ếch bố, một ngăn nuôi ếch mẹ. Thực hiện trước mùa sinh sản 1 tháng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Yêu cầu ngăn nuôi ếch bố, mẹ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Có nước ngọt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Diện tích ứng với 5 ếch/1m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Có hang trú ẩn( đắp mô đất hay thả miếng mút có ngăn ô hay bên bờ có chỗ đặt những viên ngói úp)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Có vách ngăn: vách ngăn có thể bằng lưới, có chiều cao khoảng 1m.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">  <strong>  2-Bể ương trứng ếch con.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <strong>a- Bể ương trứng.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Bể ương trứng được thành lập tạm thời trong khoảng 10 ngày kể từ khi thả trứng vào. Sau đó bể được dọn đi để không ảnh hưởng đến diện tích.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Bể ương trứng được xếp bằng những hàng gạch trên nền đất, với diện tích 2 x 0,80 x 0,40m, đáy dốc khoảng 30 để tiện cho việc thay nước. Bể được lót bằng 1 tấm ny lon liền để chứa nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Lượng nước: mực nước trong hồ ương đảm bảo khoảng 0,25 – 0,35m so với đáy bể.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thực vật trong bể: thường được thả rong đuôi chó, bẹ chuối được tỉa thành giải làm chỗ bám cho nòng nọc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    b- Bể nuôi nòng nọc.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Bể nuôi nòng nọc thường có kích thước: 1m x 2,5m, đáy bể bằng đất thịt có hình lòng máng, tạo cho đáy bể có độ sâu khác nhau để nòng nọc tự lựa chọn độ sâu tùy ý thích hợp với nhiệt độ trong ngày. Phủ bạt xanh để giữ nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hệ thực vật trong ao ương nòng nọc có thả rong đuôi chó hay bèo lục bình với ½ diện tích mặt nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mật độ nuôi khoảng 2.000 cá thể/1m2</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>3- Kỹ thuật cho ếch đẻ.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> a-Thời vụ cho sinh sản.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Thời vụ sinh sản tự nhiên của ếch bắt đầu khoảng từ tháng 5 đến tháng 8, khi trời mưa.Chúng ta có thể dùng nước phun tạo mưa nhân tạo để cho ếch sinh sản nghịch mùa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>b-Cách chọn ếch bố, mẹ để nuôi thúc cho đẻ.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Thời điểm: Dựa vào thời tiết của năm để xác định. Trung bình thời gian tách ếch đực, ếch cái để nuôi thúc khoảng 1 tháng trước khi ếch đẻ. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Tiêu chuẩn ếch bố, mẹ: Ngoại hình tốt: da trơn bóng không sây sát. Ếch cái tối thiểu 400g, con đực tối thiểu 300g. Chúng có thể đẻ 2 - 3 đợt /năm. Ếch đẻ đợt 2 cách đợt đầu khoảng 3 tuần.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Tỉ lệ đực /cái; Nên 2 đực/1cái, hoặc có thể 1 đực/1 cái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mật độ: 2 cặp/m2 hoặc 2 đực+ 1 cái/m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> c-Cách cho ếch đẻ trong điều kiện tự nhiên.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Thời điểm: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - 3 hoặc 4 ngày sau khi thấy ếch đực kêu liên miên, trời mưa, nhiệt độ trung bình từ 25 - 300C.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nếu trong những điều kiện kể trên có, nhưng thiếu mưa cần phun nước làm mưa nhân tạo để kích thích ếch đẻ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cần tháo hết nước trong bể và bơm vào nước mới, sạch và trong.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Cho ếch đực và cái tiếp xúc với nhau:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cho ếch bố mẹ nhịn ăn bữa chiều.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mở lưới ngăn 2 ô ếch bố, mẹ đã nuôi thúc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đảm bảo yên tĩnh( không chiếu sáng, không gây tiếng động)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Về ban đêm, ếch đực ôm ếch cái để giao phối trên bờ bể nước hay khu vực nuôi, giữa các đám bèo lục bình hay rau muống. Khi ếch cái đẻ xong, trứng bám</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">trên các cây cỏ thủy sinh hoặc nổi trên mặt nước thành từng đám.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 4-Kỹ thuật ương trứng, ương nòng nọc và nuôi ếch con.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <strong>a- Kỹ thuật ương trứng và nuôi nòng nọc có kiểm soát: </strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Phương thức ương nuôi 1 pha: Trong phương thức này chỉ sử dụng hai hệ thống bể nước: Hệ thống bể nước ếch đẻ trứng( 1). Sau đó trứng được vớt và chuyển vào hệ thống bể nước ương trứng( 2), ở hệ thống ương trứng nòng nọc sẽ hoàn thành sự biến thái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Phương thức ương nuôi 2 pha: Trong phương thức này có 3 hệ thống bể nước được sử dụng: hệ thống bể nước ếch đẻ trứng, hệ thống bể nước ương trứng và hệ thống bể nước ương nòng nọc. Ếch đẻ trứng ở bể nước( 1 ), sáng sớm hôm sau vớt trứng ếch chuyển vào bể nước ương trứng, khi trứng nở và hoàn thành giai đoạn mang trong thì chuyển nòng nọc vào bể nước ương nòng nọc(3). Tại đây nòng nọc sẽ phát triển hết quá trình biến thái</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>b- Sự đẻ trứng của ếch đồng và cách vớt trứng:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Chỉ thu lượm trứng có màu đen( trứng có cực động vật xoay lên trên); trứng có màu trắng ngà( cực dinh dưỡng xoay lên trên là trứng ung).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hớt cả đám trứng, không chạm vào màng vỏ trứng bằng vợt làm bằng mùng lưới.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thao tác nhẹ nhàng đừng để trứng đè lên nhau trong chậu đựng nước, đưa vợt đặt nhẹ vào chậu có nước sạch và nhẹ nhàng lừa cho mảng trứng ếch trôi ra.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Ương trứng thẳng trong hồ nước hoặc sử dụng giai.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Giai là dụng cụ để ương trứng thay cho bể ương. Giai được thả xuống hồ nước. Trứng ếch sau khi vớt được chuyển ngay vào giai.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cấu tạo giai: giai có kích thước như một cái mùng, để ngửa, có kích thước 1m x 1m x 0,25m, được may bằng tơ tằm hoặc lưới có mắt nhỏ hơn 1mm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách mắc giai: Cắm 4 cọc xuống bể nước, cách thành hồ khoảng 1m. Cột 4 góc của giai treo vô 4 cọc như chiếc mùng lật ngược. Che mát cho giai.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Mật độ trứng ương: 10 - 30.000 trứng/m2. Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở 25 – 30oC.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thời gian trứng nở từ : 7 – 8 giờ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Sự phát triển của nòng nọc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        #Giai đoạn mang ngoài:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hai bên cổ nòng nọc có mang ngoài màu đỏ phân nhánh. Miệng là giác bám thường bám vào cây cỏ trong nước. Bơi lội kiếm ăn phù du sinh vật, gặm cây cỏ thủy sinh. Giai đọan này kéo dài khoảng 2 – 6 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Định kỳ thay nước mỗi ngày một lần( Nếu nuôi trong giai trong hồ nước có diện tích lớn không cần thay nước).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        # Giai đoạn mang trong.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Miệng hình phễu, đuôi phát triển dài. Giai đoạn này kéo dài từ 8 – 11ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Chăm sóc: cho ăn thức ăn hỗn hợp với mồi động vật bằm nhỏ. Liều lượng 200g/1000 con/ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        -Định kỳ thay nước ngày một lần.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        # Sự phát triển của nòng nọc trong bể ương nòng nọc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Sau khi nòng nọc kết thúc xong giai đọan mang trong thì chuyển nòng nọc sang bể nước ương nòng nọc. Mật độ thả 2000 - 3000 cá thể/m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        # Giai đoạn nòng nọc xuất hiện chi sau:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Chi sau lúc đầu là 2 mấu lồi cơ ở 2 bên thân phía trước hậu môn sau phát triển dần thành 2 chi sau hoàn chỉnh. Nòng nọc có thể bò được ở đáy bể. Giai đoạn chi sau kéo dài 20 – 30 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        # Giai đoạn nòng nọc xuất hiện chi trước và rụng đuôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Chi trước xuất hiện và đuôi ngắn đi, nòng nọc có thể bò lên cạn. - - Giai đoạn chi trước xuất hiện kéo dài 4 – 8 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Bắt đầu tập cho nòng nọc ăn thức ăn hỗn hợp, tăng cường cho ăn mồi sống. Liều lượng thức ăn 60g/1000 cá thể/ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Vệ sinh hàng ngày, thay máng ăn, dọn thức ăn thừa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thường xuyên theo dõi địch hại.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> c- Kỹ thuật nuôi ếch co</strong>n.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đặc điểm :ếch con mới nở dài khoảng 44 – 53mm, nặng khoảng 12g( 8 – 20g).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Chăm sóc: Cần cho ăn nhiều mồi động vật sống hoặc mồi động vật bằm nhỏ phù hợp với cỡ miệng và tiếp tục tập cho ăn thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>V- KỸ THUẬT CHO ẾCH ĂN.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>1-Đặc điểm về tính ăn của ếch.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Ếch có 2 giai đoạn sống.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        +Giai đoạn nòng nọc: Tập tính ăn giống các loài cá ăn tạp( cả thức ăn động vật và thực vật), tuy nhiên ở thời kỳ xuất hiện chi trước, nòng nọc đã có thể lên cạn để bắt mồi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        +Giai đoạn ếch: Có tập tính bắt mồi trên cạn là chủ yếu và dưới nước là thứ yếu. Trong tự nhiên chúng chỉ ăn mồi động( tức động vật sống như sâu, bọ, côn trùng, cua, ốc vv…). Trong nuôi ếch công nghiệp chúng ta có thể tập cho chúng ăn thức ăn tĩnh( thức ăn chế biến, có cả thành phần thực vật)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Cách tập cho ếch ăn thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn hỗn hợp và dụng cụ cho ăn:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Thức ăn hỗn hợp có thành phần như sau: Sợi hủ tíu luộc chín cắt thành những đoạn nhỏ dài 1cm( 50%) + cá tươi nghiền nhỏ(50%), tạo thành từng cục hình chóp đường kính 3 cm, đường cao 3cm, hoặc vo viên tròn bằng đầu ngón chân cái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách cho ăn: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Đối với nòng nọc đã xuất hiện 2 chi trước: Để thức ăn hỗn hợp đã nặn thành khối. Mỗi tấm ván để 2 khối. Các ván thả xuống bể nuôi nòng nọc và thả xuống nước sát bờ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Đối với ếch con đã rụng đuôi: Thực hiện như trên, song chỉ thả ván ăn xuống nước sát thành bể nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Khối thức ăn hỗn hợp hấp dẫn ruồi đến, nòng nọc, ếch và ếch con đớp mồi, đồng thời đớp thức ăn hỗn hợp.. Kết quả thực nghiệm cho thấy nòng nọc ếch và ếch con nhảy lên ván ăn. Có khi trên một ván ăn có vài con ếch con hoặc nòng nọc cùng đớp mồi và đớp cả vào nhau. Mặt khác nòng nọc vốn quen ăn mồi tĩnh, nên ruồi chỉ là yếu tố kết hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Việc luyện cho ếch trưởng thành ăn thức ăn hỗn hợp cũng tiến hành theo phương pháp tương tự, nhưng ít kết quả hơn nhiều so với việc tập luyện nòng nọc từ khi chúng mới xuất hiện 2 chi trước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 2-Kỹ thuật cho nòng nọc ăn.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Dụng cụ cho ăn: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Dụng cụ cho ăn được sử dụng nhằm hạn chế tối đa sự ô nhiễm môi trường nước do thức ăn thừa. Các dụng cụ bao gồm: các khay, chậu có thành thấp khoảng 3cm, cột dây 4 góc thả xuống nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Máng ăn được làm bằng gỗ có chiều rộng khoảng 20 – 30cm, thành cao khoảng 10cm, ngăn làm nhiều ngăn và dựng nghiêng xuống bể nuôi</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Phương thức cho ăn:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Nòng nọc từ ngày tuổi thứ 4 đến thứ 8 cho ăn lòng đỏ trứng vịt luộc chín bóp nát.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        -Cách cho ăn: Vãi lòng đỏ trứng vịt bóp nát xuống nước ở 2 bên bờ trong ngày đầu. Từ ngày thứ 2 trở đi để vào khay ăn hoặc sàn ăn trong nước. Nếu cho ăn 2 bữa mỗi ngày: bữa sáng vào 6giờ30 và bữa chiều vào 1giờ. Liều lượng 150g/1m2/ngày</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Nòng nọc cho đến hết giai đoạn mang trong:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách cho ăn: để thức ăn vào khay hoặc sàn. Khay thức ăn hoặc máng hay sàn cho ăn như trên.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thời điểm cho ăn:6 giờ30 và 1giờ</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Nòng nọc cho đến hết giai đoạn xuất hiện chi sau: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách cho ăn: Như trường hợp nòng nọc ở giai đoạn mang trong, song có một số thức ăn đặt ở dưới đáy bể nước vì lúc này nòng nọc đã có chi sau có thể bò được ở đáy. Thời điểm cho ăn:6 giờ30 và 17giờ. Số lượng 250g/1000 cá thể/ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Nòng nọc từ giai đoạn xuất hiện chi trước đến khi thành ếch con.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách cho ăn: Tập cho chúng ăn thức ăn hỗn hợp như đã trình bày ở trên.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thời điểm cho ăn: giờ30 và 17 giờ</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 3- Kỹ thuật cho ếch con ăn.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Thức ăn: Mồi động vật và thức ăn hỗn hợp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        + Cách cho ăn: </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Để mồi động vật và thức ăn hỗn hợp vào khay, các khay để trên bờ cách mé nước chừng 0,5 – 2m. Ban đêm bật đèn để thu hút sâu bọ, đèn để cách mặt ván ăn khoảng 0,5m, cách thành bể nuôi từ 3 - 4 tấc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>VI-MỘT SỐ BỆNH CỦA ẾCH VÀ CÁCH PHÒNG, TRỊ.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Phần lớn bệnh của ếch đều do sai xót kỹ thuật trong khi nuôi ,chăm sóc không đúng kỹ thuật, không hiểu biết tường tận phương pháp nuôi, không đáp ứng đủ các yêu cầu của ếch cần có. Cụ thể ếch bị bệnh là do: thời tiết thay đổi lạnh dưới 20C0, mưa dầm nước mưa trong hồ nhiều, nuôi mật độ dầy, hồ nuôi đáy không láng, chưa rửa sạch chất vôi, không diệt sạch mầm bệnh hồ nuôi khi nuôi lại, nước bị xấu không ổn định ,không thay nước và thay nước không đúng kỹ thuật, chỗ nuôi ếch ồn ào không thích hợp, thức ăn hư ,cũ mốc không tươi, không đủ chất lượng, cách cho ăn không thích hợp và cho ăn quá nhiều. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">  <strong>  1/-BỆNH ĐỎ CHÂN:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : phát sinh do vi khuẩn Becteria ,Aeromonas hydrophilla.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hiện tượng : ếch biểu hiện tình trạng buồn rầu, di chuyển chậm chạp, không quan tâm đến môi trường xung quanh, không ăn hay ít ăn, biểu hiện có những vết chấm đỏ trên chân, vùng da dưới bụng và mẩn đỏ khắp mình, chân bị sưng, gốc đùi có màu đò. Khi mổ bụng có tình trạng chảy máu trong và có nước trong ổ bụng, gan có màu đỏ và đọng máu.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cách điều trị : chỉ trị được lúc ếch mới phát bệnh không quá nặng ,khi ếch bị qúa nặng thì việc chữa trị không có hiệu quả, có thể dùng kháng sinh Enrofloxaxin 2 - 3g/1kg thức ăn cho ăn liên tục 3 -7 ngày hay oxytetraciline 3-5g/kg thức ăn cho ăn liên tục 7-10 ngày . Ngâm ếch trong dung dịch thuốc tím nồng độ 5 -8ppm (5-8gr/1m3 nước ) từ 10 -15 phút để diệt vi khuẩn gây bệnh có trong nước hồ nuôi xâm nhập vào da ếch, xử lý diệt trùng hồ nuôi ngay , khi chữa bệnh giảm 50% lượng thức ăn xuống .</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Phòng bệnh: Phòng tốt nhất là quản lý chất lượng nước luôn luôn sạch,có chế độ thay nước thường xuyên và không nuôi với mật độ quá dầy </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <strong> 2/-VIÊM ĐƯỜNG TIÊU HÓA DO VI KHUẨN</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : nhiễm vi khuẩn protosua</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Biểu hiện: ếch biếng ăn ,gầy ốm đôi khi có hiện tượng sình trương bụng </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: dùng Metronidazole liều lượng 2-3 g/1kg thức ăn cho ăn liên tục trong 2-3 ngày và xử lý nước thường xuyên để giảm lượng vi khuẩn có trong bể, vệ sinh sạch hồ nuôi .</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>3/-BỆNH THÂN XANH VÀNG</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân: Bệnh phát sinh từ nước cónồng độ Axit cao, pH 4,5 – 5,7</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Biểu hiện: Màu da ếch trở nên vàng tái và đôi chổ da ếch bị bung ra có thể thấy quầng màu trắng thành từng vùng trên khắp thân ếch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: Điều chỉnh độ pH trong nước duy trì ở mức trên 6,8 hay gần 7 là tốt nhất, dùng vôi bột trắng hòa tan trong nước điều chỉnh cho phù hợp, nên kiểm tra độ pH của nước trước khi cho vào bể nuôi và duy trì độ pH trong nước nuôi luôn ổn định.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>4/.BỆNH BERTERIA :</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : Do nước dơ bẩn sinh ra lọai vi khuẩn gây bệnh này.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hiện tượng : Làm cho ếch ốm yếu đi, da bị lở loét, mầm bệnh lây lan từ con này qua con khác.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: Làm vệ sinh hồ nuôi, thay nước thường xuyên, cho ăn thức ăn trộn Oxytetraciline 2 – 3 gr/kg thức ăn cho ăn liên tục 7 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">  <strong>  5/. BỆNH SÁN LẢI:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : Do 03 lọai sán lá, sán sơ mít và giun đũa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Biểu hiện: Ếch ăn nhiều nhưng lớn chậm, sau đó biếng ăn rồi chết. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh : Dùng thuốc sổ lải Pepracin trộn với thức ăn ( 0,1% trọng lượng thức ăn )</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <strong>   6/ BỆNH GHẺ :</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : Bệnh này xảy ra ở các lứa tuổi của ếch do bị kiến cắn sinh mụn hoặc do ếch hoảng sợ nhảy gây ra vết thương.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hiện tượng : Thân hình ếch có các vết lở loét, ếch đau nhức, biếng ăn, dẫn đến kiệt sức và chết.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: Cách ly ếch bệnh riêng dùng thuốc xức lên chỗ loét nhiều lần trong ngày cho đến khi lành bệnh, tìm diệt các ổ kiến chung quanh và trộn O xytetracyline 3 –5 gr vào thức ăn trong 3 – 5 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>7. BỆNH SÌNH BỤNG, THỨC ĂN KHÔNG TIÊU VÀ VIÊM RUỘT :</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân : Thức ăn không tiêu, ếch ăn quá nhiều, hoặc thức ăn bị ôi chua.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Hiện tượng : bụng ếch bị trương phình ếch nằm yên một chỗ, một vài con ruột lịi ra ở lỗ hậu môn, ruột sưng và mỏng, bên trong có dịch lỏng trong lẫn với cặn thức ăn không tiêu và có mùi thối.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: Ngưng cho ăn một hai ngày hoặc giảm lượng thức ăn xuống, làm vệ sinh sàn ăn, tăng độ tươi sống của thức ăn, trộn thức ăn với thuốc kháng sinh như: Oxytetraciline 2-3g/kg thức ăn hay Enrrofloxaxin 3 g/kg thức ăn cho ăn trong 7 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    8/. CÁC BỆNH KHÔNG TRỊ ĐƯỢC NHƯ: MẮT TRẮNG, MẮT MÙ, CỔ VẸO VÀ QUAY CUỒNG :</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nguyên nhân: chưa biết rõ nhưng thường thấy ở những con ếch bị nhiễm Bactheria.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Biểu hiện: Đặc điểm mắt trắng, đục mù, viêm sưng vùng mắt, có mủ ở mí mắt, có hiện tượng thần kinh thường nằm ngửa bụng thể hiện tình trạng quay cuồng, cổ vẹo, lưu ý những bệnh này thường có ở ếch từ 50 con/kg trở lên và cần phân biệt khi ếch bị xót mắt ngộ độc do hàm lượng vôi trong hồ cao mắt bị màng mờ trắng và thân mình nằm bơi nghêng, trường hợp này nhanh chóng cho nuôi trong nước sạch và rửa hồ ngay.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trị bệnh: để giảm bớt sự lây lan của bệnh bằng cách cách ly con bị bệnh ra riêng, khử trùng hồ nuôi bằng thuốc tím 4 – 6 g /m3 nước, tạt khắp nơi trong bể liên tiếp trong 3-4 ngày, hòa trộn thuốc kháng sinh với thức ăn để đề phòng vi khuẩn xâm nhập. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        -Phòng bệnh : Nên tránh mua ếch bố mẹ, ếch giống từ các trại có quá khứ đã xảy ra bệnh này đem về nhân giống hay nuôi và nên tổ chức quản lý trại cho tốt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">  <strong>  9/. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH TỔNG HỢP.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        * Chất lượng ếch giống : Nên nuôi ếch giống cỡ 100 – 200 con/kg, trọng lượng từ 6 – 10 g/con nuôi cỡ 400 – 500 con/kg hao hụt rất cao 30 –40% do chúng cắn sát hại lẫn nhau, ngay trong cùng một lứa, cùng một bố mẹ chỉ có 60 – 70% ếch con có tiêu chuẩn làm giống, còn 30 – 40% các con còn lại chậm lớn còi cọc, những trại uy tín thường lọai bỏ những con ếch này không bán cho người nuôi.<br>Một điều rất cần được lưu ý là ếch lai, sau khi nhân giống vài đời, tình trạng đồng huyết rất mạnh và các gen xấu tiềm ẩn được trỗi dậy khiến ếch dễ bị bệnh, không lớn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        * Môi trường nước nuôi tốt không bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, không nhiễm phèn, nhiễm mặn, nhiễm chất thải công nghiệp….Trong suốt quá trình nuôi phải quản lý kiểm sóat chất lượng nuớc thường xuyên và xử lý nhanh chóng kịp thời khi phát hiện tình trạng nước xấu đi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        * Cách chăm sóc quản lý trong thời gian nuôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        * Làm sạch sẽ và vệ sinh thu dọn hết chất thải thức ăn dư thừa </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        *Ngăn ngừa phòng chống bệnh bằng một số thuốc sát khuẩn như sulfat đồng, thuốc tím …hòa tan trong nước nuôi ếch mỗi tuần một lần để diệt khuẩn trong hồ nuôi và mỗi ngày nên ngâm thức ăn 10 -15 phút và trộn với men vi sinh tiêu hóa, sinh tố, mỗi tuần 2 lần nên trộn thức ăn với sorbitol thuốc giải độc mát gan cho ếch, cố gắn làm thành hồ đáy hồ láng không làm trầy xước thân mình ếch và dùng Oxytetraciline chữa bệnh này .</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt">VII- HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI ẾCH.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Qua kinh nghiệm của nhiều hộ nuôi ếch cho biết nuôi ếch theo phương thức công nghiệp trong bể xi măng nếu cứ đầu tư 1,3 - 1,4 kg thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh đảm bảo chất lượng( giá 8.000đ/kg, với hàm lượng đạm 40%) ta thu được 1 kg ếch sống, tương đương 25.000 - 30.000đ, giá thành 1 kg ếch 13.000đ -15.000đ( tùy nguồn thức ăn); như vậy cứ mỗi kg ếch thịt lãi khoảng 15.000đ – 18.000đ. Thời gian thu hoạch sau 3 – 4 tháng nuôi( 250 – 300gam/con). Chi phí phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thức ăn và tỷ lệ sống của ếch. Nếu nuôi quảng canh cải tiến lợi nhuận có thể còn cao hơn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">TS.Nguyễn Xuân Khoa</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bạc Liêu</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:30 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 18.627</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:30:46 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=113</guid>
    </item>
    <item>
      <title>SÂU BỆNH HẠI CÂY KIỂNG</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=101</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9C8976560E6E4C1EB5C168D45D0C9483><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I. NHÓM SÂU HẠI</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    1. Rệp muội</strong>
			<em>(Macrosiphonilla sanbornici billette)</em>: là một trong những đối tượng chính gây hại nặng trên  một số cây hoa kiểng từ khi cây con đến lúc thu hoạch. Loại rệp này sống tụ tập trên bề mặt lá, đặc biệt là lá non, trên đài, nụ hoa và ngọn cây. Rệp chích hút dịch cây tạo thành những vết nhỏ, màu vàng nâu hoặc thâm đen làm cho cây bị mất dinh dưỡng, do đó trở nên còi cọc, ngọn quăn queo, lá biến dạng, mầm hoa không vươn lên được, nếu hại nụ sẽ làm thui nụ hoặc hoa không nở, cánh hoa úa hoặc nhạt màu.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">     Nên mua các loại cây giống, cành giống không  có triệu chứng của rệp (rệp con, hoặc trứng rệp). Luôn quan sát, phát hiện kịp thời, nếu thấy rệp bắt đầu xuất hiện ít cần tiêu diệt rệp ngay bằng tay hoặc dùng hồ gạo nếp, keo dính tẩm vào que bông bắt rệp. Nếu trồng hoa kiểng  nhiều hoặc trồng chuyên canh dùng thiên địch diệt rệp bằng cách nhân nuôi các loại bọ rùa ăn rệp như: bọ rùa đỏ, bọ rùa 2 chấm đỏ, bọ rùa Nhật Bản, bọ rùa 6 vằn,… các loại ong ký sinh, bọ cánh cứng… khi rệp phát sinh với số lượng lớn, không thể áp dụng các biện pháp trên thì phải dùng thuốc hóa học để phun cho hoa vào giai đoạn rệp non. Các loại thuốc diệt rệp là: Supracide 40ND, nồng độ phun 0,1-0,15% (phun 3 bình loại 8 lít/1 sào Bắc Bộ), Bassa 0,1-0,15%, Karate 2,5 EC 0,5-0,1%, Ofatoc 400 EC 0,1-0,15%... Nên thường xuyên thay đổi các loại thuốc trên để tránh hiện tượng rệp quen thuốc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    2<strong>. Sâu xanh </strong><em>(Helicoverpa Armigera Hb.): </em>sâu xanh là loại đa thực phá hoại trên nhiều loại cây trồng, trong đó có hoa kiểng. Sâu non ăn lá, ăn nụ hoa, trên lá non chúng ăn khuyết, trên nụ chúng đục nụ, ăn vào bên trong. Sâu non tuổi lớn có tập tính ăn thịt lẫn nhau, khi đẫy sức chuyển xuống đất hóa nhộng. Sâu trưởng thành hoạt động về đêm thích mùi chua ngọt, ban ngày ít hoạt động, ẩn nấp vào lá cây, chúng đẻ trứng rải rác trên lá non hoặc nụ hoa, sau khi đẻ từ 3-4 ngày thì trứng nở.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Biện pháp phòng trừ: luân canh với cây trồng khác, tốt nhất là luân canh với lúa nước để tiêu diệt các mầm mống sau hại như trứng sâu, sâu non, nhộng có trong đất, cỏ dại. Dùng các biện pháp thủ công như dẫn dụ sâu bằng bả chua ngọt, ngắt bỏ ổ trứng, diệt trừ sâu non, tieu hủy các bộ phận bị sâu phá hoại như: lá, cành, nụ hoa. Biện pháp sinh học: sử dụng chế phẩm virus nhân đa điện N.P.V phun vào thời kỳ sâu non, rất hiệu quả mà không gây ô nhiễm môi trường. Biện pháp hóa học: khi mật độ sâu lên cao, quá ngưỡng kinh tế có thể dùng một trong các loại thuốc trừ sâu: Pegasus 500SC nồng độ 0,07-0,1%, Ancol 20EC 0,1-0,15%, Supracide 40ND 0,1-0,15% (liều lượng 1-1,5 lít thuốc/ha), Decis 2,5EC 0,3% hoặc Ofatoc 400EC 0,1-0,15% (1-1,5 lít/ha).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    3. <strong>Sâu khoang</strong>
			<em>(Spodoptera Fabricius):</em> thuộc họ ngài đêm (<em>Noctuidae)</em>, bộ cánh vảy <em>(Lepidoptera)</em>, sâu non trên lưng có vết đen hình bán nguyệt, sống thành từng đám dưới lá hoặc trên hoa, ăn lớp biểu bì của lá và đục rỗng bông hoa tạo ra lá chỉ còn gân màu trắng. Khi bị khua động chúng bò ra xung quanh mặt lá hoặc nhả tơ rong mình xuống đất. Sâu trưởng thành thân dài 14-25cm, cánh trước màu nâu vàng, phần giữa từ mép trước đến mép sau cánh có một vân ngang màu trắng, cánh sau màu trắng phản quang tím, chúng thường ẩn náu dưới gốc cây hoa, đẫy sức hóa nhộng trong đất, xung quanh gốc cây hoa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Biện pháp phòng trừ: ngoài các biện pháp luân canh với các cây trồng khác cũng có thể sử dụng một số biện pháp phòng trừ đối với sâu xanh: dùng bẫy bả chua ngọt, diệt sâu, ngắt ổ trứng… Biện pháp hóa học: lụa chọn một trong các loại thuốc sâu sau để phòng trừ: Padan 95P nồng độ 0,1%, Polytrin 400EC 0,07-0,1%, Sumicidin 0,1-0,15%... hoặc có thể dùng chế phẩm vi sinh BT bột thấm nước với liều lượng 1kg/ha có hiệu quả cao trong việc phòng chống sâu khoang hại hoa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>4. Châu chấu xanh lớn</strong>
			<em>(Hypomecces Sequamosus F): </em>thuộc họ vòi voi <em>(Curculionidae)</em>, bộ cánh cứng <em>(Coleoptera).</em> Châu chấu trưởng thành màu xanh vàng, mặt lưng có các chấm nhỏ lóng lánh, thân dài 18 -18,5mm, đầu kéo dài như cái vòi, thường hại các đọt non, nụ hoa vào các buổi chiều tối hoặc sáng sớm, ban ngày chui xuống đất. Do thời điểm hại như vậy nên nhiều khi ta thấy các cây non, mầm non bị cắn, mà không tìm ra đối tượng gây hại. Để phòng trừ loại sâu này có thể dùng một số loại thuốc như Sinitol 10EC nồng độ 0,05-0,1%, Decis 2,5EC 0,03-0,05% hoặc các chế phẩm BT bột thấm nước với liều lượng 0,5-1kg/ha.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>5. Bọ trĩ</strong>
			<em>(Frankliniella sp.):</em> trưởng thành có màu đen, kích thước rất nhỏ (mắt thường nhìn kỹ mới thấy), vòng đời ngắn, khả năng sinh trưởng rất cao. Khi còn non chúng chạy trốn ở gốc cây hay nhảy lên các cánh hoa, chúng hút mật hoa và nhựa cây, làm cho lá, hoa bị mất sắc tố dẫn đến hiện tượng vàng lá, màu hoa nhạt. Thuốc có hiệu lực cao để diệt trừ bọ trĩ là Carbamec, Promecarb hoặc Cabosulfan 0,05-0,1%.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Ngoài một số đối tượng sâu hại chính trên còn một số đối tượng gây hại khác: bọ hung ăn lá <em>(Pratactia sp):</em> hoạt động vào lúc sáng sớm hoặc trời tối, ăn ngọn non, búp, cắn ngang thân cây, bọ cánh cam <em>(Anamola Japonica Arron):</em> hại đọt non, búp hoa, hoạt động vào chiều tối hoặc sáng sớm, bọ xít xanh <em>(Nezara viridula Fabr)</em> và bọ xít xanh vai vàng <em>(Nezara torquata Fabr):</em>  hai loại bọ xít này chích hút lá non, lộc non, nụ hoa làm cho các bộ phận này có vết thâm vàng, lá úa vàng rồi rụng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Phòng trừ: với 2 loại bọ hung và bọ cánh cam dùng Basudin nồng độ 0,1-0,2%, còn phòng trừ 2 loại bọ xít xanh và bọ xít xanh vai vàng Decis 2,5EC nồng độ 0,03%.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>II. NHÓM BỆNH HẠI</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Bệnh cây là trạng thái không bình thường của cây do các yếu tố ngoại cảnh hoặc vi sinh vật gây ra làm biến đổi các chức năng sinh lý, sinh hóa, rối loạn các quá trình trao đổi chất dẫn đến năng suất thấp, phẩm chất hoa giảm sút. Căn cứ vào tác nhân gây bệnh chia ra làm 2 loại bệnh: nhóm bệnh không truyền nhiễm và nhóm bệnh truyền nhiễm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>1. Bệnh không truyền nhiễm:</em></strong> biểu hiện các triệu chứng không bình thường của cây do ảnh hưởng của ngoại cảnh hay môi trường sống không phù hợp, cụ thể như sau:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh do thiếu hoặc thừa nước:</em> nếu thiếu nước biểu hiện lá khô héo, mềm, hơi cụp xuống, thân teo, rễ nhỏ. Nếu thừa nước (ngập úng lâu ngày) lá úa vàng rồi chết.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng:</em> khi đất đai trồng hoa không đủ dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng, cây sẽ còi cọc, phát triển chậm, lá vàng hoặc biến màu, do thiếu từng yếu tố mà có thể gây nên các hiện tượng khô đầu lá, thối ngọn, khảm vàng trên lá, nụ nghẹn không nở thành hoa, hoa chóng tàn, màu sắc nhợt nhạt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh do thời tiết bất thuận:</em> thời tiết quá nóng (nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh) gây cháy lá cúc, làm biến màu một số sắc tố của hoa, làm cho hoa có màu sắc nhợt nhạt, chất lượng giảm sút. Nếu trời quá lạnh, cây ngừng sinh trưởng, ngọn thui, lá mất màu (trắng lá) nụ lụi, thui chột.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh do tác động của điều kiện môi trường:</em> trong quá trình chăm sóc do sử dụng quá liều lượng một số loại hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng hoặc do ô nhiễm môi trường vùng trồng hoa: ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước tưới, cũng tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây hoa kiểng và gây nên loại bệnh gọi chung là bệnh sinh lý – không truyền nhiễm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        Do đặc điểm của bệnh không truyền nhiễm là không có nguồn bệnh, không lây lan, không mầm bênh do vậy tùy từng triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp chữa trị kịp thời bằng cách loại bỏ những yếu tố gây bệnh, sau đó bổ sung dinh dưỡng đầy đủ để cho cây chúng hồi phục và phát triển bình thường trở lại.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>2. Bệnh truyền nhiễm: </em></strong>đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm là do tác nhân vi sinh vật (siêu vi trùng, virus, nấm, tuyến trùng, vi khuẩn…) gây nên, do vậy gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển rất nhanh và có thể lây lan thành dịch bệnh. Các tác nhân gây bệnh được chia thành các nhóm như sau:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Nấm:</em> hầu hết các bệnh trên cây hoa kiểng  là do nấm gây nên, có hơn 10.000 loài nấm gây hại trên cây trồng, riêng với hoa kiểng  theo thống kê có khoảng 30 loại nấm gây hại. Nấm là sinh vật dị dưỡng, không có diệp lục và sinh sản bằng bào tử, bào tử nấm dễ lây lan qua không khí, nước, và các hoạt động khác của con người như: trong quá trình vận chuyển, chăm sóc, vun xới, cắt tỉa cành lá, giâm ngọn, cắt hoa… khi xâm nhiễm vào cúc, chúng sử dụng chất hữu cơ sẵn có, làm cho cây mất diệp lục tố và mất dần chất hữu cơ, nếu để nặng cây chủ tàn lụi hoặc chết.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Vi khuẩn: </em>có hơn 100 loài vi khuẩn gây hại cho cây trồng, chúng thường có dạng hình gậy với kích thước rất nhỏ (mắt thường không nhìn thấy), dễ dàng chuyển động trong nước. Loại vi khuẩn chủ yếu gây hại cho cúc là <em>Pseudomonas solanacearum,</em> chúng xâm nhập và lan truyền vào cây qua vết thương bằng nước tưới, gió, không khí và côn trùng. Sau khi xâm nhập vào mô cây, vi khuẩn sinh sản rất nhanh, phá hủy cấu trúc mô tế bào hoặc phá hoại mạch dẫn, làm thâm nâu mạch dẫn, gây ra hiện tượng héo rũ hoặc tao u sưng thân, cành gây thối lá, hoa. Ẩm độ là điều kiện quyết định sự phát triển của bệnh. Khi hậu nóng ẩm của mùa xuân và mùa hè bệnh phát triển rất mạnh.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Virus:</em> là đối tượng gây hại nguy hiểm khó phòng trừ trên một số loại cây hoa như: hoa lay ơn, một số loại lan, cẩm chướng, hoa hồng…  </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong><em>* Sau đây là một số loại bệnh thường gặp trên hoa kiểng:</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>        - Bệnh đốm đen (Black Spot):</em> lúc đầu trên bề mặt lá xuất hiện những chấm nâu đen, sau chuyển thành màu đen, từ mép lan vào trong phiến lá, vết có hình tròn, hình bán nguyệt hoặc hình bất định không đều làm lá rụng dần, các chồi non cũng bị lây bệnh. Bệnh do nấm <em>Curvularia</em> gây nên, nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển từ 22-26<sup>0</sup>C, ẩm độ &gt;85%... Phòng trừ bằng cách: làm vệ sinh xung quanh vườn, tránh đọng nước lại trên lá, nên tưới nước vào buổi sáng, vặt bỏ lá già, bị bệnh. Dùng các loại thuốc: Anvil 5SC nồng độ 0,05-0,1%, Topsin nồng độ 0,05-0,1%, Maneb BTN nồng độ 0,1-0,3%.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh gỉ sắt:</em> mặt trên lá bị bệnh xuất hiện những chấm nhỏ, nồi màu vàng da cam hoặc màu gỉ sắt, về sau có màu vàng nâu, hơi đỏ, bệnh hại mặt dưới lá, chồi non, cuống lá, đôi khi hại cả thân cây, làm cho thân teo tóp lại, nếu không chữa trị kịp thời bệnh lan rộng cả mặt lá làm cho cháy lá, lá vàng rụng sớm. Bệnh do nấm <em>Puccinia chrysanthemi</em> gây ra, bào tử nấm lan truyền trong không khí, trên tàn dư cây bênh còn sót lại, gặp điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ thích hợp (18-21<sup>0</sup>C) bệnh phát triển mạnh. Biện pháp phòng trừ: thu dọn tàn dư lá bệnh đem đốt, làm vệ sinh vườn cây, tạo độ thông thoáng, bón phân cân đối cho cây cứng, khỏe mạnh, phun thuốc phòng trừ bằng các loại: Bavistin nồng độ 0,15-0,2%, Zineb BTN nồng độ 0,1-0,3%, Topsin M70NP nồng độ 0,05-0,1%.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh phấn trắng:</em> vết bệnh xuất hiện trên lá non, trên những phần non của cây, vết bênh dạng bột màu trắng xám như bột phấn, hình bất định. Mặt dưới lá mô bệnh chuyển sang màu vàng nhạt, làm cho lá kho héo rụng sớm, nụ thối, hoa nhỏ không nở được hoặc nở lệch về một bên. Bệnh do nấm <em>Didium chrysanthemi</em> gây ra, nấm này phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15-25<sup>0</sup>C, nếu nhiệt độ cao hơn 33<sup>0</sup>C nấm sẽ chết sau 24 giờ. Phòng trừ bệnh bằng cách: cắt hủy cành lá bị bệnh, bón kali để tăng sức chống chịu cho cây, thay đổi thời gian trồng cúc (tránh thời điểm bệnh phát triển mạnh), dùng các loại thuốc Kasuran 0,15%, Derosal 0,1-0,15%, Ridomyl MZ72WP 0,3% phòng trừ rất hiệu quả.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh đốm vòng: </em>vết bệnh thường xuất hiện từ mép lá, màu xám nâu hoặc xám đen hình tròn hoặc bất định, xung quanh vết bệnh có quầng vành rộng, sau đó lan từ mép và chóp lá vào phiến lá, làm lá thối đen và rụng. Bệnh do nấm <em>Alternara sp.</em> gây ra, nấm này phát sinh mạnh ở độ ẩm &gt;85% và nhiệt độ thích hợp từ 20-28<sup>0</sup>C. Phòng trị bệnh bằng cách: kịp thời phát hiện bệnh, vặt bỏ các lá bị bệnh, khơi nước, không để ruộng đọng nước, úng nước, dùng các loại thuốc: Topsin M70NP 0,05-0,1%, Aliette 80NP nồng độ 0,25%.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh lở cổ rễ: </em>phần cổ rễ sát mặt đất có vết bệnh màu xám nâu, lở loét, rễ bị thối mềm, thân lá tự nhiên bị héo dần và héo khô, khi nhổ cây lên thấy gốc dễ bị đứt, chỗ vết đứt bị thối nham nhở. Bệnh do nấm <em>Rhizoctonia solani</em> gây ra. Phòng trừ bằng cách: đất trồng phải tơi xốp, thoát nước, hạn chế việc xới xáo làm đứt gốc, rễ tạo điều kịện cho nấm xâm nhập. Dùng các loại thuốc: Fundazol 50WP nồng độ 0,2%, Rovral 50 Wp 0,15%.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        <em>- Bệnh héo xanh vi khuẩn:</em> đây là bệnh hại cúc rất phổ biến ở vùng nhiệt đới ẩm. Vi khuẩn này ngoài ra còn gây hại cho nhiều cây trồng khác nhau như cà chua, khoai tây, thuốc lá… nó tồn tại lâu trong đất, lan truyền theo nước tưới xâm nhập vào cây qua các vết thương và di chuyển vào trong bó mạch. Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng đến xuất hiện nụ, làm lá non bị héo trước vào buổi trưa, nắng. Triệu chứng héo cả cây diễn ra rất nhanh sau 1-2 ngày, khi điều kiện khí hậu thuận lợi và cây héo hoàn toàn khi lá vẫn còn xanh. Nếu bệnh diễn biến chậm, rễ bất định xuất hiện nhiều trên thân, chẻ dọc thân phần mô mạch phần thân dưới và rễ hóa nâu cắt ngang thân, rễ cây bị bệnh nhúng vào nước sẽ thấy dòng vi khuẩn trắng đục trào ra rừ mạch dẫn có dạng dịch nhầy. Nguyên nhân bệnh do loại vi khuẩn <em>Pseudomonas solanacearum</em> gây ra. Cách phòng trị: với loại bệnh này hiện nay chưa có thuốc hóa học phòng trị đặc hiệu, chỉ dùng các biện pháp hạn chế: làm thủy lợi tốt, bón nhiều phân hữu cơ, tủ đất cho cây và tránh làm rễ bị tổn thương khi chăm sóc, nhổ bỏ ngay cây bị bệnh, diệt trừ cỏ dại và phòng trừ môi giới truyền bệnh như: rệp, bọ rầy, chọn cây giống sạch bệnh, tránh sát thương cơ giới. Một số thuốc kháng sinh có thể làm hạn chế sự phát sinh, phát triển của bệnh này là Streptomixin phun ở nồng độ 100-150ppm</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:24 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.025</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:24:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=101</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Tiểu sử đồng chí Hoàng Văn Thụ</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC73ED3B871114CDDAA3D1A195D9B85D5><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0854_Tiusngch1.gif" alt=""><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Tiểu sử</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoàng Văn Thụ là người dân tộc Tày, sinh năm 1906 tại xóm Lạc Phạn, xã Nhân Lý (nay là xã Hoàng Văn Thụ), châu Điềm He, huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng) tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Thoát ly theo cách mạng</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hoàng Văn Thụ đã được học cả chữ Hán và chữ quốc ngữ từ nhỏ. Năm 14 tuổi (1920), sau học đậu sơ học yếu lược<sup>[2]</sup> ông ra thị xã Lạng Sơn học tiếp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại đây, Hoàng Văn Thụ đã gặp và kết bạn với Hoàng Đình Dong (Roong, Gioong) và Lương Văn Chi, những người trở thành bạn hoạt động cách mạng của ông sau này.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1926, sau lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, ông đã cùng Lương Văn Chi thành lập nhóm thanh niên yêu nước ở Lạng Sơn. Cuối năm 1927, ông cùng Lương Văn Chi sang Bản Đáy (Quảng Tây, Trung Quốc) là nơi Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đang tổ chức các lớp huấn luyện chính trị. Nhưng khi ông vừa tới nơi thì bị đặc vụ vây bắt. Ông chạy thoát về Long châu, trải qua nhiều khó khăn gian khổ để kiếm sống và hoạt động, có lần phải đóng làm người &quot;bán thuốc cao&quot; và thậm chí phải đi xin ăn, nhưng ông vẫn không nản chí.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Gây dựng cơ sở trong nước từ nước ngoài</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1930, ông được người quen giới thiệu vào học thợ và làm việc tại xưởng cơ khí Nam Hưng, một xí nghiệp do một số nhà cách mạng Việt Nam lập ra, làm cơ sở liên lạc, nơi hội họp đồng thời là cơ sở hoạt động kinh tế để lấy kinh phí hoạt động. Tại đây Chi bộ Đông Dương cộng sản đảng gồm ba người: Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Roong và Hoàng Vĩnh Tuy đã được thành lập, Hoàng Đình Roong làm bí thư chi bộ. Từ chi bộ ba người đã trở thành Ban liên tỉnh uỷ Cao - Lạng (Cao Bằng - Lạng Sơn). Hoàng Văn Thụ được phân công phụ trách Lạng Sơn. Ông rời xưởng Nam Hưng về Long Châu, gây dựng cơ sở ở Lũng Nghìu làm nơi liên lạc với những người cách mạng ở Việt Nam.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1930, ông gây dựng được 3 tổ quần chúng tại các xóm Ma Mèo, Tà Lài (huyện Văn Uyên), tới năm 1931 mở rộng ra các địa phương Khơ Đa, Na Sầm, Đồng Đăng, Kỳ Lừa, Thất Khê và tới năm 1932 mở rộng tới xã Nhân Lý quê ông. Khi vận động được người nào, ông thường tập hợp tại hang Áng Cúm (gần Lũng Nghìu) để huấn luyện rồi giao nhiệm vụ trở về phát triển tổ chức trong nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, năm 1932, Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Về tới Long châu, Lê Hồng Phong bắt liên lạc với Ban liên lạc tỉnh uỷ Cao - Lạng và đã gặp ông. Ông được Lê Hồng Phong giúp đỡ học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và làm trợ bút cho tờ báo Châu Giang để học thêm tiếng Hán. Nhờ vốn tiếng Hán, ông đã tiếp cận với nhiều trước tác của Mao Trạch Đông. Từ khi Ban chỉ huy hải ngoại thành lập, ông trở thành người giúp việc tích cực của ban này và chắp nối với các cơ sở trong nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1934, Hoàng Văn Thụ cùng các đảng viên trong Ban liên tỉnh uỷ lâm thời họp và được đề cử đại biểu đi dự đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1935, sau khi dự đại hội, ông được cử về nước hoạt động.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoàng Văn Thụ trở về Việt Bắc làm chủ bút báo &quot;Tranh đấu&quot; ở miền thượng du. Sau đó ông gây dựng cơ sở đảng ở Vũ Nhai, Bắc Sơn. Chi bộ ghép được thành lập, trong đó có Chu Văn Tấn và Nông Văn Cún là những người chỉ huy khởi nghĩa Bắc Sơn sau này.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời kỳ 1936-1939, thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, còn gọi là thời kỳ Bình dân, sau một thời gian sang Trung Quốc để in văn kiện đại hội Đảng gửi về nước, tháng 2 năm 1937, ông về Cao Bằng lãnh đạo phong trào bình dân và viết báo Lao động. Sau đó, vì bị người Pháp theo dõi gắt gao, ông trốn sang Hương Cảng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1938, ông được Lê Hồng Phong giao nhiệm vụ về gặp Xứ uỷ Bắc Kỳ tại Hà Nội để truyền đạt chủ </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">trương thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít ở Đông Dương. Sau đó Hoàng Văn Thụ được bầu vào Ban thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, cùng với Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt, Bí thư Liên xứ uỷ Bắc Trung kỳ giai đoạn này là Hoàng Văn Nọn tức Hoàng Tú Hữu<sup>[3]</sup>. Sau đó ông lại được cử ra Hòn Gai, Uông Bí để củng cố cơ sở Đảng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu năm 1939, ông dự hội nghị Xứ uỷ mở rộng do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ triệu tập ở Vạn Phúc (Hà Đông) và được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Thời gian hoạt động ở Hà Đông, cơ quan Xứ uỷ bị người Pháp theo dõi, khủng bố ráo riết. Để tránh bị lộ, ông thường xuyên phải cải trang và di chuyển, đi ở nhờ trong nhiều nhà dân và vận động được nhiều người tham gia, ủng hộ cách mạng. Nhiều người biết đến ông với những cái tên như &quot;đồng chí Bảy&quot;, &quot;anh Lý&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài công việc Xứ uỷ, ông còn được giao trực tiếp phụ trách Thành uỷ Hà Nội. Do bị nội phản, Thành uỷ luôn bị phá. Từ năm 1939 đến 1943, ông đã 10 lần khôi phục lại Thành uỷ Hà Nội.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 11 năm 1940, tại Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương lần thứ 7 diễn ra tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, ông cùng Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt được bầu là Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng, Trường Chinh làm quyền Tổng Bí thư.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp ở Đông Dương tăng cường đàn áp. Hàng ngàn đảng viên đảng Cộng sản bị bắt giam. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương rút vào hoạt động bí mật, ông cùng Trường Chinh phải lặn lội đi nhiều tỉnh để chắp nối trong cảnh vô cùng thiếu thốn và gian khổ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phát xít Nhật đem quân tràn vào Đông Dương. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, dẫn đến việc thành lập <em>Cứu quốc quân</em> do Chu Văn Tấn chỉ huy. Ông cùng Trường Chinh và Trần Đăng Ninh đã kịp thời lên Lạng Sơn chỉ đạo để <em>Cứu quốc quân</em>, lúc đó chưa đủ mạnh, rút vào bí mật, để bảo toàn lực lượng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu năm 1941, ông được cử sang Tịnh Tây (Trung Quốc) dự đại hội đoàn thể cách mạng Việt Nam để bàn việc thống nhất các lực lượng cách mạng trong và ngoài nước. Ông đã gặp Nguyễn Ái Quốc và nhận trách nhiệm cùng tỉnh uỷ Cao Bằng đón Nguyễn Ái Quốc về nước.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó ông nhận lệnh của Trường Chinh sang Quảng Tây đón Nguyễn Ái Quốc, nhưng chuyến đi đó chưa đón được. Tháng 4 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam qua Quảng Tây về Cao Bằng, ở tại hang Pắc Pó, nơi có dòng suối mà tiếng địa phương gọi là <em>Khuổi Nậm</em>. Hoàng Văn Thụ cùng Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Chu Văn Tấn từ Việt Nam sang Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi đi vòng về Cao Bằng. Tại Pắc Bó, tháng 5 năm 1941, ông cùng đoàn đại biểu Xứ uỷ Bắc Kỳ dự hội nghị trung ương lần thứ VIII và được cử vào Ban thường vụ Trung ương Đảng. Đại hội thành lập Việt Nam cách mạng đồng minh (Việt Minh) đã cử ông vào Lâm thời Tổng bộ Việt Minh. Ông được phân công là Thường vụ trung ương phụ trách binh vận.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mặt trận Việt Minh ra đời, phong trào chống Pháp-Nhật lên cao. Đảng Cộng sản Đông Dương một mặt xây dựng căn cứ ở Việt Bắc, mặt khác đẩy mạnh phong trào ở các tỉnh. Ban Thường vụ đặt cơ quan bí mật ngay tại quận 5 Hà Nội. Hoàng Văn Thụ thường cùng ở với Tổng bí thư Trường Chinh. Ông tích cực hoạt động binh vận (vận động binh lính địch) ở Hà Nội. Trong khi đang vận động các binh lính, do bị chỉ điểm, ông bị bắt tháng 8 năm 1943 tại ngõ Nam Diệm khu Tám Mái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Trong lao ngục</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong nhà lao thực dân Pháp, ông truyền thụ nhiều lý luận cách mạng và nêu cao tinh thần bất khuất cho các đồng đội trong ngục. Ông mở cuộc tranh luận với các thủ lĩnh Đảng Đại Việt làm họ thấy chủ trương đúng đắn của Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp-Nhật do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Ông tranh thủ cảm hoá các giám ngục, binh lính trông tù, nhiều người trong tù rất kính phục ông.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoàng Văn Thụ bị nhiều trận tra tấn rất nặng. Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông bị hơn 20 trận tra tấn, nhiều trận kéo dài từ 9 giờ đêm tới 3 giờ sáng. Tuy nhiên, thực dân Pháp không thể khuất phục được ông. Trong thời gian chịu đòn tra tấn, ông vẫn ôn tồn thuyết phục, tuyên truyền cho sự hợp tác giữa những người Pháp và ngưòi Đông Dương trong việc chống lại phát xít Nhật.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 1 năm 1944, ông bị kết án tử hình.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Ra pháp Trường</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sáng ngày 24 tháng 5 năm 1944, thực dân Pháp mang ông ra xử bắn. Ông ung dung ra pháp trường Tương Mai. Khi giám thị hỏi ông có cần bịt mắt hay không, ông trả lời không cần.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quan toà hỏi ông có cần nói lời cuối cùng, ông nói:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>&quot;Trong cuộc đấu tranh sinh tử, giữa chúng tôi, những người mất nước và các ông, những kẻ cướp nước, sự hy sinh của những người như tôi là một sự dĩ nhiên. Chỉ biết rằng cuối cùng chúng tôi sẽ thắng&quot;</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cha cố hỏi ông có cần rửa tội hay không, ông đáp:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>&quot;Cảm ơn ông, tôi không có tội gì. Nếu yêu nước, cứu nước là có tội thì những người Pháp hiện giờ đang đấu tranh chống phát xít Đức bên nước ông đều là có tội cả. Ông hãy về hỏi xem họ có tội không?&quot;</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6 giờ sáng, ông bị đưa đi bắn. Năm đó ông 38 tuổi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><strong><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Nhắn bạn</em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:13pt">
			</span></strong></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi bị địch bắn, Hoàng Văn Thụ đã viết một bài thơ tuyệt mệnh gửi ra ngoài nhà tù cho các đồng chí của mình, mà có người cho rằng ông nhắn tới bà Hoàng Ngân, nằm ở sà lim cạnh phòng ông. Đó là bài thơ <strong>Nhắn bạn</strong> bất hủ:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Việc nước xưa nay có bại thành,</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Miễn sao giữ được chọn thanh danh,</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Phục thù, chí lớn không hề nản,</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành.</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm,</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Chí còn theo rõi buổi tung hoành.</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Hỡi bạn gần xa đang chiến đấu,</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify;margin-left:36pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>Trước sau xin giữ tấm lòng thành!</em>
		</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Tưởng nhớ</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đời chiến đấu của Hoàng Văn Thụ không dài nhưng rất nhiều ý nghĩa. Trên bảng ghi công Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 có tên Hoàng Văn Thụ. Các thế hệ  Việt Nam luôn ghi nhớ tấm gương hy sinh và cuộc đời chiến đấu của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoàng Văn Thụ được truy tặng danh hiệu anh hùng, liệt sĩ. Phần mộ của ông tại Tương Mai, từ sau ngày giải phóng Thủ đô, 10-10-1954, được xây cất đẹp đẽ, sau đó được đưa về nghĩa trang Mai Dịch. Ở Tương Mai, nơi ông bị bắn cũng có một nấm mộ và một tượng đài trong tư thế hiên ngang trước quân thù, dũng cảm hy sinh vì tự do cho nhân dân, vì độc lập của Tổ quốc.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xã Nhân Lý quê hương ông được đổi mang tên ông. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<a href="http://hvthu.khanhhoa.edu.vn/Default.aspx?ArticleId=51e0bb72-ce7c-461e-af5b-12aa7aebd176"></strong><span style="text-decoration:underline">
				<strong><em>hvthu.khanhhoa.edu.vn</em></strong></span></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 3:55 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.740</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 08:55:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Gevork Vartanian: Người anh hùng thầm lặng của tình báo Xôviết</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=12</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7227508BA9C04240A79689A0A4FA2F72><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 2/2009, điệp viên kỳ cựu từng được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô Gevork Andreevich Vartanian vừa chính thức bước sang tuổi 85. Trong lịch sử tình báo Xôviết, hiếm có những điệp viên nào như vợ chồng nhà Gevork lại được giữ bí mật về hoạt động tình báo trong quá khứ của họ lâu đến như vậy. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0826_GevorkVarta1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mãi tới những ngày cuối cùng của thế kỷ XX - ngày 20/12/2000, cũng là dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống - Cơ quan Tình báo đối ngoại Nga (SVR) mới chính thức tiết lộ hồ sơ về gia đình điệp viên lão thành này. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhờ đó, người dân Nga mới biết được, Gevork cùng nhóm tình báo có mật danh &quot;Đội kị binh nhẹ&quot; của ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn thành công âm mưu ám sát Stalin, Churchill và Roosevelt trong Hội nghị của quân Đồng minh tại Tehran vào năm 1943…</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Cha truyền con nối</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gevork sinh ngày 17/2/1924 tại thành phố Rostov trong gia đình có cha là Andrey Vartanian, một công dân Armenia gốc Iran, giám đốc một nhà máy ép dầu. Khi cả gia đình Vartanian chuyển tới sống tại Iran vào năm 1930, Gevork mới tròn 6 tuổi. Trên thực tế, cha của Gevork là một điệp viên của tình báo đối ngoại Xôviết, chuyển tới sống tại Iran theo yêu cầu của cấp trên. Ông nhanh chóng trở thành một thương gia thành đạt và nổi tiếng (chủ nhân một nhà máy sản xuất bánh kẹo) tại Iran.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tận dụng vỏ bọc rất tốt này, Andrey đã triển khai các hoạt động tình báo hết sức tích cực: tự mình tuyển mộ, duy trì liên lạc với các nguồn tin để thu thập từ họ những tài liệu mật quan trọng. Ông gần như không bao giờ sử dụng nguồn tài chính do cấp trên cung cấp mà chỉ sử dụng tiền mình kiếm được từ kinh doanh để hoạt động tình báo. Thậm chí trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, Andrey còn thu thập một khoản tiền không nhỏ gửi về trung tâm để chi phí chế tạo thêm xe tăng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1953, Andrey Vartanian rời Tehran quay trở lại Erevan, sau khi hoạt động cho tình báo Xôviết trong suốt 23 năm tại Iran. Cả cuộc đời của ông có thể coi là một điệp viên xuất sắc, một tấm gương yêu nước thực sự. Andrey đã giáo dục tất cả những người con của mình theo tinh thần đó. Gevork đã trở thành một điệp viên thực thụ dưới những ảnh hưởng như vậy từ người cha của mình.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Cuộc chiến vì bàn đạp chiến lược</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên thực tế, Gevork Vartanian đã gắn kết số phận của mình với tình báo Xôviết ngay từ năm 16 tuổi, khi cậu tình nguyện tham gia vào các hoạt động liên lạc trong bộ phận tình báo tại Tehran từ tháng 2/1940. Ngoài người cha đáng kính của mình, điệp viên tài năng và đầy kinh nghiệm Ivan Agaians cũng là người có vai trò quan trọng trong việc dìu dắt Gevork trở thành một chiến sĩ tình báo thực thụ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gevork chính thức bước vào sự nghiệp của một điệp viên vào đúng thời điểm tại Iran đang trong bối cảnh hết sức phức tạp. Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc gia này đóng một vai trò rất quan trọng trong các kế hoạch của Hitler. Ngoài đặc điểm là nguồn cung cấp dầu mỏ vô tận, Iran còn là một nút giao thông chiến lược - nằm trên lộ trình tới Afghanistan và sau đó là Ấn Độ, là nơi Hitler dự định sẽ xua quân đánh chiếm sau khi &quot;thanh toán&quot; xong Liên Xô.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Càng gần sát tới thời điểm bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà vua Iran Reza Shah Pahlavi càng tỏ rõ xu hướng xích lại gần hơn với nước Đức phát xít, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự. Ngay thời điểm bắt đầu chiến tranh, tại Iran đã có gần 20 ngàn công dân Đức: từ các chuyên gia quân sự, điệp viên công khai lẫn bí mật, thương gia, kỹ sư,...</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thông qua mạng lưới điệp viên sâu rộng của mình, Hitler đã có được một ảnh hưởng rất lớn lên các quan chức chính trị, quân đội và cảnh sát nước này. Dù vậy, sau khi Đức chính thức yêu cầu Iran phải gia nhập liên minh phát xít, Hội đồng quân sự tối cao của nước này vẫn kiên quyết từ chối với lý do theo đuổi chính sách trung lập, bất chấp sự do dự của Vua Pahlavi. Trong bối cảnh như vậy, chỉ huy Cơ quan Tình báo quân sự  Đức phát xít - đô đốc Canaris - đã bí mật tới Iran để trực tiếp chuẩn bị một vụ đảo chính.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cần nói thêm là bản thân Iran cũng có một vị trí địa lý hết sức quan trọng đối với Liên Xô. Việc phát xít Đức chiếm được Nauy và quần đảo Spitzbergen đã phong tỏa đáng kể mọi tuyến đường biển tới các cảng phía bắc Liên Xô. Iran với vị thế cánh cửa mở ra vịnh Pecxich cùng với hệ thống đường sắt rộng khắp sẽ là tuyến đường chiến lược để cung cấp hàng hóa tiếp tế phục vụ cho chiến tranh đối với Liên Xô.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Moskva tất nhiên không thể ngồi yên nhìn Iran rơi vào tay phát xít Đức. Đến tháng 9/1941, Liên Xô và Anh đã phối hợp đưa quân vào quốc gia này. Chiến dịch quân sự của quân Đồng minh không gây tổn hại đáng kể nào cho mạng lưới gián điệp của Đức tại Iran. Chúng thậm chí còn tiếp tục lợi dụng lãnh thổ nước này để làm bàn đạp cho các hoạt động phá hoại ngay trên đất Liên Xô.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bộ phận tình báo Xôviết tại Iran - đứng đầu chính là điệp viên Ivan Agaians - đã được lệnh tập trung cho nhiệm vụ ưu tiên là xây dựng một mạng lưới tình báo đủ mạnh để có thể phát hiện làm rõ điệp viên của các cơ quan tình báo nước ngoài, các tổ chức thù địch với Liên Xô, ngăn ngừa những hành động phá hoại nhằm vào các hoạt động của Liên Xô tại Iran.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thái Quân (tổng hợp)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trích từ: http://antg.com.vn/vi-VN/tulieu.cand</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 3:27 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 748</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 08:27:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=12</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21/6/1925-21/6/2009:</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2CA27573D4884C1B9C5FE260BCDAC104><p style="text-align:center"><span style="color:red;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Nhớ về nhà báo Huỳnh Thúc Kháng và lớp học viết báo mang tên ông</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cách đây 60 năm, mùa xuân Kỷ Sửu năm 1949, tôi đang là phóng viên được tòa soạn Báo Cứu Quốc cử đi viết về chiến tranh du kích ven đường số 5, thì được lệnh &quot;lên Việt Bắc để học nghề viết báo&quot;. Tôi vội đi liền 20 ngày đêm thì tới trạm liên lạc của Tổng bộ Việt Minh đặt trong một khu rừng tại Thái Nguyên. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0829_KnimNgyB1.gif" alt="">Ông Xuân Thủy, Chủ nhiệm Báo Cứu Quốc, lúc này kiêm thường trực lớp viết báo, còn nói thêm với cánh trẻ chúng tôi mới ở các chiến khu về: &quot;Tớ có đề nghị lớp viết báo mang tên đồng chí Trường Chinh, nhưng bị đồng chí ấy gạt phắt ngay và bảo: &quot;Lớp nên mang tên nhà báo lão thành Huỳnh Thúc Kháng&quot;. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cánh trẻ chúng tôi đều biết cụ Huỳnh Thúc Kháng năm 1945 từ Huế ra Hà Nội làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, và khi Hồ Chủ tịch đi Pháp năm 1946 thì cụ được cử làm quyền Chủ tịch nước. Nhưng vì sao lớp viết báo chúng tôi nên mang tên cụ Huỳnh Thúc Kháng thì chúng tôi chưa rõ lắm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Có lẽ là tính đến sự bỡ ngỡ này, ngay trong buổi khai giảng, ông Hoàng Quốc Việt, Bí thư  Tổng bộ Việt Minh, đã đọc diễn văn, nói rõ: &quot;Lớp mang tên cụ Huỳnh Thúc Kháng là để nhớ ơn và noi gương cụ lão thành ái quốc và đồng thời cũng là một nhà viết báo lâu năm, có danh tiếng, nêu một tấm gương cho các học viên một đức tính học hỏi cần mẫn, một óc tổ chức tiến bộ, một chí khảng khái, bất khuất, là những đức tính căn bản cho một ký giả&quot; (Trích theo xã luận Báo Cứu Quốc số đặc biệt ra ngày 12/9/1949 tại Việt Bắc).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên thật là Huỳnh Văn Thước (còn có tên là Huỳnh Hanh), sinh ngày 1/10/1876, quê ở làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Học giỏi, đỗ cao, sớm nổi tiếng, được coi là một trong &quot;tứ hổ&quot; đất Quảng. Năm 24 tuổi, đỗ đầu giải Nguyên (cử nhân); 28 tuổi, đỗ đầu hoàng giáp (tiến sĩ). </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Không nhận làm quan. Bị Pháp bắt và đưa đi đày ngoài Côn Đảo suốt 13 năm. Trong bài giảng ở lớp viết báo, ông Xuân Thủy kể lại: Trong toàn tập của mình, có lẽ chỉ duy nhất một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể đồng bào sau ngày tạ thế của một con người, con người đặc biệt ấy chính là cụ Huỳnh Thúc Kháng. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Trong bức thư ngày 29/4/1947 ấy, Bác Hồ viết: &quot;<em>Cụ Huỳnh là một người có học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh, chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết. </em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai võ không làm sờn gan. Cả đời cụ không màng danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập&quot;. </em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cũng chính con người đặc biệt ấy là người duy nhất đến ngày giỗ đầu lại được Bác Hồ từ Việt Bắc gửi điện về quê cũ Quảng Nam; toàn văn như sau: <em>&quot;Gửi gia đình Huỳnh Bộ trưởng, nhân ngày giỗ đầu cố Bộ trưởng, thay mặt Chính phủ, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ, và xin gửi gia đình Cụ lời chào thân ái và quyết thắng</em>&quot;. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="color:blue;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Ngày 24-4-1948. Hồ Chí Minh&quot;.</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Ngay trong những ngày đầu ở lớp Huỳnh Thúc Kháng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nói chuyện về những năm tháng cùng cụ Huỳnh làm báo Tiếng Dân và nhất là những kỷ niệm của Đại tướng về nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: &quot;Khi đó, tôi tham gia hoạt động trong Chi bộ Cộng sản báo Tiếng Dân, làm biên tập viên tại tòa báo. Dù tư tưởng khác nhau, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giúp đỡ chúng tôi như khi viết về chỉ thị của Đảng nên viết bằng lời lẽ cổ phong để bài vở dễ lọt qua mạng lưới kiểm duyệt của Pháp. Nhiều khi tôi viết mạnh bạo quá, bài bị kiểm duyệt hết, cụ không thay bài khác mà cứ để giấy trắng, cụ bảo như thế là độc giả sẽ biết ở chỗ này là bài đả mạnh thực dân, khiến chúng phải cắt bỏ. Như vậy tờ báo thỉnh thoảng có những khoảng bỏ giấy trắng cũng là một cách vạch mặt &quot;dân chủ&quot; giả hiệu thực dân...&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cụ Huỳnh có viết một quyển sách nhan đề &quot;Huỳnh Thúc Kháng niên phổ&quot; ghi lại công việc từng năm trong cuộc sống vất vưởng của mình như sau: &quot;<em>Năm 33 tuổi vì quốc sự bị đày đi Côn Lôn. 46 tuổi được tha về. 51 tuổi bị cử làm Viện trưởng Viện Nhân Dân đại biểu Trung Kỳ. 52 tuổi cùng các bạn lập ra Công ty Huỳnh Thúc Kháng, sáng lập nhà in và báo Tiếng Dân tại Huế, gánh cái gánh chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sanh nhai bằng báo chí, đối với tôi có thể nói là cảnh tằm nằm trong kén, mình tự buộc mình</em>&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Tính từ năm 1929, cụ Huỳnh 54 tuổi bắt đầu làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Báo Tiếng Dân, cho đến năm 1943 với 69 tuổi, cụ đã là cây bút chính luận sắc sảo trong 1.766 số báo viết và in bằng &quot;quốc ngữ&quot; xuất bản trong sự kiểm soát ngặt nghèo của thực dân đế quốc. Dưới nhiều thể loại và nhiều bút danh khác nhau, 15 năm liên tục, cụ đã viết hàng nghìn bài báo để bày tỏ chính kiến của mình đối với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước ta hồi đó. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Pháp rung dọa, Nhật mua chuộc, Cường Để xin hợp tác, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ vững ý chí một lòng vì dân, vì nước. Nhật trao trả độc lập giả hiệu cho Bảo Đại, cụ Huỳnh vẫn cương quyết khước từ mọi lời chèo kéo, cụ &quot;luôn luôn mong chờ đất nước có được những người lãnh đạo sáng suốt vào thời điểm quyết định&quot;. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Mừng Xuân đầu tiên nước nhà giành lại độc lập, tự do, năm Bính Tuất 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm câu đối cởi mở cõi lòng:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    Mẹ đất rước xuân về, gia đình chung cô bác anh em, nâng chén rượu mừng nhau, hai chục triệu người không thiếu bạn/</em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    Cha trời cho sống mãi, họa kiếp trải binh đao nước lửa, co ngón tay đếm thử, bảy mươi mốt tuổi vẫn chưa già</em>. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: &quot;Sau Cách mạng, tôi có đề nghị với Bác Hồ và anh Trường Chinh là tôi đã được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo Tiếng Dân ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần lớn mời Cụ Huỳnh ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Nhưng khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu, cụ tỏ ra ngần ngại. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa Bác với cụ Huỳnh thật là cảm động... cụ Huỳnh đã thấy ở nhà cách mạng lừng danh mà từ lâu mình khát khao được gặp, một người rất thân thiết. Sau buổi gặp Bác Hồ, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn: &quot;Dân ta có được Cụ Hồ, quả là hồng phúc&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Đầu năm 1946, toàn thể đại biểu Quốc hội đã nhiệt liệt vỗ tay đồng tình với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người long trọng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng là &quot;một người đức cao, vọng trọng, mà toàn thể quốc dân ai cũng biết&quot; ra nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính quyền Liên hiệp Kháng chiến. Tiếp đó, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Cuối năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Chính phủ, đi kiểm tra tình hình kháng chiến ở các tỉnh phía nam đèo Hải Vân. Ngày tết Đinh Hợi 1947, cụ họp mặt mừng xuân với các cụ bô lão tỉnh Quảng Nam, nơi chôn rau cắt rốn. Cụ động viên mọi người đoàn kết chung quanh Chính phủ kháng chiến. Cảm xúc trước ý chí nhiệt tâm bền gan của già trẻ gái trai xứ Quảng, cụ Huỳnh ứng khẩu đọc liễn mừng xuân:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    Trẻ lại với xuân, nước tổ bốn ngàn năm lịch sử.</em></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><em>    Đứng lên làm chủ, quyền người hai chục triệu dân sinh</em>.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Vào đến Quảng Ngãi, cụ cho triệu tập Đại hội thân hào liên tỉnh Quảng Ngãi – Bình Định. Cụ nói chuyện về tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, và động viên mọi người hy sinh chiến đấu vì nền độc lập dân tộc. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Mấy tháng sau, cụ bị bệnh nặng; biết mình không qua khỏi, cụ chu đáo gửi thư thăm hỏi anh em binh sĩ bộ đội trên các mặt trận trong cả nước; cụ cũng gửi thư &quot;kêu gọi anh em các đảng phái tôn giáo hãy đặt lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Riêng đối với Bác Hồ, cụ Huỳnh gửi một bức điện hết sức cảm động: &quot;<em>Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là thôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc</em>&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Nhớ lại những tháng ngày mới được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được cùng làm việc với anh em cán bộ cách mạng như các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, cụ Huỳnh có tâm sự: &quot;<em>Nay đã được gặp những anh em tri kỷ, tiếc rằng khi gặp mình đã vào tuổi già. Song, những ngày tháng này, thiệt là mình đã sống hả!</em>&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Như vậy, trước khi mất, cụ Huỳnh sung sướng được &quot;sống hả&quot; trong nhiều ngày giữa cách mạng; khi không còn được sống trên đời, cụ cũng thấy thế là được &quot;chết hả&quot;.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Là một chí sĩ lão thành, cụ Huỳnh Thúc Kháng là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, suốt đời hy sinh phấn đấu vì dân, vì nước. Là một nhà báo kỳ cựu, cụ Huỳnh nêu cao ý chí khảng khái bất khuất trước khó khăn gian khổ, và tấm lòng thành làm nghề báo vì lợi ích xã hội, không chạy theo danh tiếng hay tiền bạc. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Đó là những ấn tượng mạnh mẽ nhất chúng tôi thu hoạch được từ những lời truyền đạt ở lớp viết báo mùa xuân Kỷ Sửu của núi rừng Việt Bắc 60 năm trước đây, mà năm tháng qua đi vẫn làm sâu sắc thêm chứ không chút phai mờ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">  Mai Thanh Hải (Học viên lớp viết báo 1949)</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn tin: <a href="http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2009/6/69717.cand"><span style="color:blue;text-decoration:underline">http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2009/6/69717.cand</span></a></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 3:30 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 772</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 08:30:43 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Biện pháp đối phó với bệnh phân trắng ở tôm sú nuôi</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass40919578553C4F30B16204CE22BA8E49><p><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_1000_Binphpip1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bệnh phân trắng ở tôm sú không phải là bệnh cấp tính gây ra làm tôm chết hàng loạt, nhưng khi tôm bị bệnh rất khó chữa khỏi, nếu tôm khỏi bệnh thì cũng trong tình trạng bị óp và chậm lớn, làm giảm đáng kể sản lượng cho người nuôi. Để chuẩn bị cho vụ nuôi tôm xuân hè năm 2010 đạt năng suất, chúng tôi khuyến cáo bà con một số biện pháp phòng bệnh phân trắng trên tôm sú nuôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bệnh phân trắng (white feace) trên tôm sú nuôi được ghi nhận với những dấu hiệu đặc trưng: trong ao xuất hiện phân tôm có màu trắng, gan tôm bị teo hoặc rữa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tác nhân gây bệnh: do vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng, yếu tố môi trường, trong đó tác nhân chủ yếu là vi bào tử thuộc giống Plexstophora và vi khuẩn thuộc giống vibrio.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mùa vụ xuất hiện bệnh: từ tháng 3 - 7 và tập trung tháng 5, tháng 7 đối với miền Bắc, miền Trung bệnh xuất hiện rải rác quanh năm và tập trung từ tháng 8 - 10 đối với miền Nam. Bệnh thường xuất hiện khi tôm nuôi được 50 - 90 ngày. Đặc biệt, bệnh thường xuất hiện khi thời tiết bất thường (nắng nóng, mưa kéo dài hoặc khi thời tiết thay đổi).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với bệnh phân trắng trên tôm sú nuôi, biện pháp phòng bệnh tổng hợp là cần thiết:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Cải tạo ao triệt để: tát cạn vét bùn phơi khô và khử trùng đáy ao (hồ) để diệt hết mầm bệnh, các loài ốc và nhuyễn thể.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nguồn nước cấp vào ao: phải được lọc kỹ qua lưới lọc phù du và sử dụng hóa chất diệt tạp, không để ốc phát triển và đảm bảo mức nước ao nuôi 1,2 – 1,5 m.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Tôm giống và mật độ thả: phải rõ nguồn gốc xuất xứ, kiểm tra vi rút MBV, vi rút đốm trắng (WSSV), vi rút gây bệnh hoại tử cơ quan tạo máu (IHHNV), vi rút HPV gây bệnh gan tụy trên tôm he, vi bào tử... trước khi thả tôm giống. Mật độ thả tôm 15 - 20 con/m2.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Quản lý và chăm sóc: cho tôm ăn đủ bữa, đủ lượng chất lượng; thức ăn phải đảm bảo không bị mốc hoặc hết hạn sử dụng. Trong quá trình nuôi, nên thường xuyên sử dụng chế phẩm sinh học nhằm hạn chế ô nhiễm đáy ao do chất hữu cơ tăng - nguyên nhân phát sinh bệnh phân trắng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, men tiêu hóa vào khẩu phần ăn của tôm, nhằm tăng cường sức đề kháng, phòng bệnh cho tôm; định kỳ cho tôm ăn bột tỏi, 1 lần/tháng, liều lượng 1 g bột tỏi/kg thức ăn, ăn trong 3 ngày liên tục.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<em> www.khuyennongvn.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 5:01 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.022</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 10:01:04 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Trồng đậu nành thay lúa xuân hè ở đồng bằng sông Cửu Long</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=158</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass5AB546E10037443EB9E2886026C75688><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0958_Trngunnh1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đậu nành là cây thực phẩm có giá trị rất lớn về nhiều mặt, nhất là về giá trị dinh dưỡng. Đạm là chất quan trọng nhất trong thành phần hóa học của đậu nành. Đạm trong đậu nành chứa tới 18 loại acid amin cần thiết cho cơ thể với các tỷ lệ gần giống như ở đạm động vật , do đó có thể thay thế đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài đạm ra, đậu nành còn chứa một lượng chất béo rất cao, nhiều sinh tố và muối khoáng cần thiết cho cơ thể con người. Theo kết quả phân tích của các cơ quan y tế thì trong 100 g đậu nành có 37,6 g protein , 27 g đường , 16,5 g chất béo , 244 mg Ca , 6,8 mg Fe , 0,89 mg sinh tố B1 và sinh tố PP là 1,2 mg.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tập quán trồng đậu nành của bà con nông dân ở ĐBSCL đã có từ lâu đời , nhưng trước đây chỉ giới hạn ở chân đất rẫy. Kỹ thuật trồng đậu nành trên đất rẫy cũng khác hẳn cách trồng trên đất trồng lúa . Một vài năm gần đây do hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa vụ xuân hè không cao nên nhiều hộ gia đình đã thay thế vụ lúa xuân hè bằng một vụ đậu nành. Phần lớn diện tích trồng lúa ở các huyện Lấp Vò, Lai Vung (Đồng Tháp), Chợ Mới (An Giang), P.Phước Thới (Q.Ô Môn, Cần Thơ) được thay thế bằng cây đậu nành trong vụ xuân hè. Trong điều kiện thường xảy ra thiếu nước vào mùa nắng và dịch bệnh trên lúa phát triển nhiều (rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá) thì việc chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây màu là hoàn toàn hợp lý. Kinh nghiệm trồng đậu nành trên chân đất lúa của nông dân ở Lấp Vò, Lai Vung, Chợ Mới, Phước Thới cũng thật là độc đáo, có thể tóm tắt như sau:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Chuẩn bị đồng ruộng:</strong> Sau khi thu hoạch lúa đông xuân (khoảng tháng 2-3 dương lịch), dọn sạch cỏ bờ bao và cắt gốc rạ theo hàng, bề ngang của hàng chỉ cần 15-20 cm. Cứ 5m đào một rãnh sâu 30 cm, rộng 20 cm để giúp cho việc tưới tràn và thoát nước khi mưa nhiều. Bơm nước lên ruộng cho ngập một ngày đủ để đất mềm rồi rút hết nước đi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Gieo hạt:</strong> Sau khi rút hết nước không cần xới đất, rải hạt trên mặt đất (không chọc lỗ), mỗi hốc 2-3 hạt, khoảng cách hàng là 40 cm, khoảng cách bụi là 10 cm, lượng giống dùng từ 60-70 kg/ha. Sau khi gieo hạt dùng rơm phủ kín mặt ruộng. Việc phủ rơm không những giữ được đất ẩm lâu giảm được chi phí tưới nước mà còn khống chế sự xì phèn từ lớp đất dưới lên, hạn chế được sự phát triển của cỏ dại , giữ cho lớp đất mặt không bị nén sau khi tưới. Ngoài ra, sau vụ đậu nành lớp rơm rạ sẽ là nguồn phân hữu cơ quí giá cho vụ sau. Cũng có một số bà con nông dân dùng phương pháp sạ lan như sạ lúa hoặc dùng máy sạ đậu theo hàng. Làm theo phương pháp này thì cần phải phát hết gốc rạ trước khi sạ, sau đó phủ lại rơm. Trong trường hợp sạ lan thì mật độ cây thường phân bố không được đều, chăm sóc, làm cỏ, bón phân cũng khó khăn hơn</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Giống:</strong> Hiện nông dân vùng này trồng chủ yếu là giống đậu MTĐ176, thời gian sinh trưởng khoàng 70-75 ngày, thời gian trổ bông 28-30 ngày sau khi trồng, tỷ lệ trái cho 3 hạt cao, trọng lượng 100 hạt từ 16-17 g, năng suất hạt từ 2,8-3,0 tấn/ha.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Tưới nước:</strong> Việc phủ rơm rạ đủ giữ được độ ẩm cho cây nảy mầm. Ở giai đoạn đầu cây còn nhỏ thì cần phải tưới bằng thùng hoặc tưới máy có gắn bông sen. Sau khi cây được 15-20 ngày tuổi là có thể tưới tràn. Khi tưới tràn người dân thường lợi dụng con nước lớn cho nước vào ngập cả đám ruộng, mực nước trên ruộng từ 2-3 cm. Sau khi cho nước ngập 1-2 giờ là phải rút hết nước ngay, cần phải khơi các rãnh thoát nước để nước rút hết ngay trong ngày. Để nước đọng sẽ làm cây kém sinh trưởng hoặc sẽ chết. Chú ý đến giai đoạn gần thu hoạch thường có mưa nhiều cũng phải thường xuyên đi khơi nước, tránh để nước tồn đọng trong ruộng sẽ làm hư trái.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Làm cỏ:</strong> Sau khi rải hạt giống, dùng thuốc trừ cỏ Dual 720 EC để phun diệt cỏ suốt vụ. Liều lượng sử dụng là 1,0-1,2 lít/ha (pha 50-60 ml thuốc cho bình 16 lít, phun 2 bình cho 1.000 m2). Sau khi phun thuốc thì phủ rơm kín lại. Đến giai đoạn 10-15 ngày sau khi gieo, nếu có nhiều lúa rày (lúa mọc từ hạt rụng xuống đất khi thu hoạch lúa đông xuân) thì dùng thuốc Onecide hoặc Nabu để diệt, các loại thuốc này diệt tốt các loài cỏ hòa thảo và lúa rày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Bón phân:</strong> công thức phân bón cho đậu nành thích hợp là 60:40:30 kg NPK/ha (tương đương 100-110 kg urea , 200 -250 kg sufer lân , 60 kg KCl). Phân lân được bón lót toàn bộ. Đạm được bón làm 3 lần: lần 1 lúc 7 ngày sau gieo 30 %, lần 2 lúc 15 ngày sau gieo 50 % và lần cuối 20 % lúc 30 ngày sau gieo. Phân KCl được bón hai lần: lần một cùng với lần bón đạm thứ 2,bón 50 %; lần hai bón trước khi cây trổ bông 50 % phần còn lại. Ngoài các loại phân đa lượng chính trên nếu có điều kiện bón thêm vôi sẽ làm cho cây đậu tốt hơn, lượng dùng khoảng 300-350 kg/ha (bón lót cùng với phân lân).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Phòng trừ sâu bệnh:</strong> Sâu là loại dịch hại quan trọng nhất tác động đến năng suất và phẩm chất đậu nành. Đậu nành có nhiều loại sâu phá hoại như: giòi đục thân, sâu đục trái, sâu ăn tạp, sâu xanh, sâu bông, bọ xít, rầy xanh. Phòng trừ các loại sâu bằng cách thăm đồng thường xuyên, nhất là từ khi cây đậu nành trổ hoa, kết trái. Khi vừa thấy bướm sâu xuất hiện là tổ chức diệt ngay. Các loại thuốc được dùng như Basudin 50 ND, Viphensa 60 EC, Cyperan 25 EC. Ngoài biện pháp dùng thuốc hóa học thì có thể dùng biện pháp luân canh cây trồng để cắt đứt nguồn thức ăn của sâu khi áp lực sâu trên đồng ruộng quá mạnh. Các bệnh chính trên đậu nành: bệnh rỉ, bệnh đốm vằn, bệnh thối trái, bệnh đốm vi khuẩn, bệnh tím hạt. Phòng trị các loại bệnh này bằng các loại thuốc như Zineb 75 WP, Rovral, dung dịch Boocđô 1 %.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Thu hoạch:</strong> khi 80-85 % số trái đã chuyển sang màu xám hoặc đen là hạt đã chín già, có thể thu hoạch. Không nên để chín quá, trái đậu sẽ nổ làm thất thoát hạt. Trước khi thu hoạch 5-7 ngày dùng dung dịch nước muối (pha 2 kg muối hạt trong bình 16 lít và phun cho 500 m2) để làm rụng bớt lá đậu nành. Dùng phương pháp này đem lại nhiều lợi ích là đỡ được công thu hoạch, bốc vác, công phơi và phần lớn lá đậu nành rụng xuống đất đã để lại cho đất lượng phân hữu cơ rất lớn. Hiện nông dân trồng đậu dùng máy tuốt lúa để ra hạt đậu nành. Đậu sau khi thu về phơi cho khô hết toàn bộ cây, quả. Phơi càng khô thì tỷ lệ hạt ra theo vỏ càng thấp và hạt càng sạch.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hiệu quả kinh tế của vụ đậu nành cao hơn nhiều so với trồng lúa, theo anh Nguyễn Đức Dũng ở Tám Trung (Lấp Vò, Đồng Tháp) và anh Huỳnh Trung Hiền ở quận Ô Môn, TP.Cần Thơ thì vụ đậu năm ngoái đa số bà con nông dân đều đạt năng suất từ 8-10 giạ/công (2,6-3,0 tấn/ha). Giá đậu nành thương phẩm bán được 15.000 đồng/kg. Thu nhập từ 3,5-4,0 triệu đồng/công, trừ chi phí mỗi công còn lãi trên 2 triệu đồng. Ngoài số lãi do bán đậu thì bà con nông dân còn đỡ được một đợt bón phân cho lúa hè thu sau đậu do lượng đạm, phân hữu cơ do thân lá đậu để lại cho đất rất lớn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước tình hình hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng và dịch bệnh do trồng nhiều vụ lúa liên tục thì việc chuyển đổi sang trồng các loại cây màu như đậu nành, bắp lai, mè hoặc một loại cây trồng ít tốn nước nào khác là điều cần thiết. Tùy theo điều kiện canh tác, tập quán, thị trường mà bà con nông dân có thể lựa chọn để đem lại lợi ích cho mình.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<em> www.khuyennongvn.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:59 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.007</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:59:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=158</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Kỹ thuật trồng Mãng cầu xiêm</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=143</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass290486935DFA44A0A0FB6815DA1AF560><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>I. Giới thiệu:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0951_Kthuttrng1.gif" alt=""><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Cây mãng cầu xiêm chủ yếu được trồng ở Nam Bộ và rãi rác ở Nam Trung Bộ. Mãng cầu xiêm là thực phẩm qúi nhờ giàu chất khoáng: lân, canxi và rất nhiều Vitamin B 1, B2,P,C có vị chua ngọt rất ngon khi làm nước sinh tố rất thích hợp cho người Phương Tây nhưng không thích hợp với khẩu vị người Á Ðông. Hiện nay ở Việt Nam đã đóng hộp được nước quả mãng cầu xiêm.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Trái mãng cầu xiêm lớn hơn mãng cầu ta rất nhiều, nặng trung bình từ 1-2 kg có khi lớn hơn nữa, vỏ ngoài nhẵn chỉ phân biệt múi nọ với múi kia nhờ mỗi múi có một cái gai cong, mềm vì vậy còn có tên là mãng cầu gai.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>II. Ðặc điểm sinh thái:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>III. Giống và đặc điểm thực vật:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Mãng cầu xiêm thuộc loại cây tiểu mộc cao 6-8 m, tán lá xanh quanh năm, hoa ở thân hay các nhánh già, hoa lớn. Hiện nay ở Nam bộ có hai thứ mãng cầu: Mãng cầu xiêm ngọt và chua. Thứ ngọt lá và quả thường nhỏ hơn thứ chua, giá cao hơn. Nhưng thứ chua có năng suất cao, dễ bán và làm mứt hay kẹo dễ hơn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>IV. Kỹ thuật trồng:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>1. Nhân giống:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Ðối với mãng cầu xiêm khi trồng tùy theo điều kiện đất đai cụ thể từng nơi mà chúng ta có thể ghép hoặc trồng bằng hạt. Nếu đất nhiễm mặn hoặc phèn mặn ngập nước theo thủy triều thì trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát. Các vùng khác thì trồng bằng hột hoặc chiết (sau 2-3 năm sẽ cho trái).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>2. Khoảng cách trồng:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Nên trồng khoảng cách 3 x3 m, một số nơi trồng 2,5 x2,5 m.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>3. Phân bón:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Cần bón cân đối NPK nên chọn các loại phân 10-10-10 với loại phân trên năm 1 bón 100g, năm thứ 2 bón 400 g, năm thứ 3 bón 800g, năm thứ 4 bó 1,2 kg/cây. Khi cây lớn bon gia giảm từ 2-3 kg/cây/năm. Nếu đất xấu hoặc trên đất cát nên bổ sung thêm 10-20 kg phân chuồng /cây/năm. Chia làm 2-3 lần bón, sau thu hoạch (cuối mưa) và khi cây nuôi quả (đầu + cuối mùa mưa).</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>4. Thụ phấn bổ sung cho mãng cầu xiêm:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Nhìn chung hoa mãng cầu có nhụy cái trưởng thành trước nên đòi hỏi thụ phấn chéo, hoa không có mùi thơm nên hấp dẫn ít côn trùng, cánh hoa dày và khi nở hé ra ít, hoa lại mọc chúc xuống . Thường côn trùng thụ phấn không đủ nên cần thụ phấn bổ sung bằng tay để tăng sự đậu quả. sự thụ phấn thiếu sẽ làm quả méo mó không nở phồng về các phía,hoa thiếu thụ phấn sẽ đen rồi rụng. Khi thụ phấn bổ sung bằng tay, hột phấn thường lấy ở những hoa bìa tán cây hay ở các cành nhỏ vì chúng ít có cơ hội phát triển thành quả lớn ,các cành nhỏ yếu không mang nổi quả tới khi thu hoạch. Lấy hoa có cánh đã hé, phần nhị đực có màu kem là tốt, thu hoa vào buổi chiều, để hoa vào một cái hộp nhỏ đậy kín cho khỏi mất nước, sáng hôm sau dùng một que nhỏ đầu cuốn bông gòn chấm vào hột phấn có màu vàng nhạt, tay phải cầm que có chấm hột phấn, tay trái kẹp hoa muốn thụ vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, quét hột phấn lên nướm nhụy cái lúc này có màu trắng và ướt dính, quét đều và nhẹ nhàng. Hoa cần thụ nên chọn hoa chọn mọc ở thân hoặc những cành to, có cánh đang hé nở ra. Quả phát triển từ hoa được thụ thường to và nở đều. Cây sẽ sai quả hơn. Tất nhiên một lần chỉ thụ được một số hoa, như vậy phải làm nhiều lần, cách nhau khoảng 4 ngày.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>5. Sâu bệnh hại chính:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Sâu gây hại phổ biến nhất vẫn là rệp sáp và các loại rầy miệng chích hút khác, làm giảm chất lượng, sản lượng. Trị bằng nhiều loại thốc như BI 58, Applaud Mipcin v.v.<br>Rệp và rầy ngoài việc chích hút nhựa làm hại trái, còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh xâm nhập, nhất là bệnh thán thư gây những vết hoạ đen.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="color:#333333;font-family:Arial;font-size:10pt">Cách đề phòng: trồng thưa, giữ vệ sinh trong vườn không để cành lá bị bệnh vương vãi kể cả các loại trái cây khác cũng bị thán thư phá hại như ổi, xoài. Xịt thuốc benlat C, Kasuran BTN, Aliette 80 BTN v.v.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<em> agriviet.com</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:52 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.094</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:52:47 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=143</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Cách chọn giống đu đủ cho nhiều quả?</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=144</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB5EBA1358A714E58A4A3C3286DFAEC03><p><span style="color:#5f5f5f;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Các giống đu đủ của Việt Nam hay của Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, ấn Độ... đều để giống được, với điều kiện không phải là giống lai F1. Các giống của Đài Loan có tỷ lệ cây cái cao và thường thuộc loại cây lai nhân tạo. </strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0952_Cchchnging1.gif" alt=""><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">Cây đu đủ vốn có tính di truyền phức tạp, phấn của hoa đực và hoa lưỡng tính lại rất khác nhau, tính mẫn cảm của phấn hoa đực cao gấp nhiều lần của hạt phấn hoa lưỡng tính, do đó đu đủ rất dễ bị lai tạp, khó giữ được giống tốt thuần chủng nếu không thụ phấn bắt buộc. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">Việc thụ phấn bắt buộc trước hết phải chọn cây giống khoẻ, ít sâu bệnh, cần phải chọn đúng giống, chọn những nụ hoa ra ở lứa quả đầu tiên, khi cây còn đang rất sung sức, nếu vào đúng lúc thời tiết đầu mùa hè thì càng tốt, sau này số hạt sẽ cho nhiều hơn. Dùng kim châm cho các nụ hoa nhỏ ở trong chùm hoa nhiều vết, mấy hôm sau hoa tự rụng đi, chỉ để lại một nụ hoa ở giữa to nhất, khi đầu cánh của nụ hoa bắt đầu có màu trắng thì dùng túi nilon trong, châm thật nhiều lỗ cho dễ thoát hơi nước và không khí, sau đó bao nụ hoa lại theo dõi tới khi hoa nở. Các buổi sáng tháo túi nilon ra, ngắt bao phấn thoa lên đầu nhụy hoa cái. Nếu cây giống là cây lưỡng tính, có hoa lưỡng tính thì lấy bao phấn của hạt hoa lưỡng tính. Nếu là giống chỉ có hoa cái và hoa đực riêng rẽ trên từng cây thì lấy phấn hoa đực và sau đó sẽ có 50% là hạt sẽ cho cây đực. Thụ phấn xong, bao hoa lại để tránh hoa bị thụ phấn của giống khác ngoài ý muốn. Chờ 2-3 ngày sau hoa rụng đi thì tháo túi nilon ra cho quả phát triển tự nhiên. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">Muốn đu đủ cho sai quả và có quả to cần chọn chân đất tốt, ẩm và thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ, không bị cây khác che khuất. Chăm sóc thật tốt cho cây luôn có 50-60 lá xanh tốt trên cây. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">Khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót từ 20-30kg phân hữu cơ mục và thêm 0,1-0,2kg lân, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 25-30 gam đạm và 40 gam DAP hoà tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30cm. Các tháng sau, cây to ra, hoa quả nhiều, cần tăng dần lượng phân cho tới lúc quả chín, hạn chế ở mức độ 120-150 gam urê và 140-160 gam DAP cho tới khi cây hết khả năng cho quả thương phẩm. Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng. ở ấn Độ người ta còn tưới cả dung dịch này vào gốc cây, giúp cây có thêm vi lượng đồng, chống rét và bạc lá. Chú ý phòng trừ rệp hại cây.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<em> www.hoinongdan.org.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:53 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.571</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:53:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=144</guid>
    </item>
    <item>
      <title>TẬP HUẤN KỸ THUẬT CHO NÔNG DÂN – ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ.</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=103</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8902C3DEF78D4969A3B3083B64E047DA><p style="text-align:center"><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>   -------------- * ----------------</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">   <span style="color:black"> Thực hiện  chủ trương &quot;trí thức hóa nông dân&quot; của Đảng và Nhà nước, những năm qua ngành Nông nghiệp – PTNT của các tỉnh trong cả nước nói chung, ở Bạc Liêu nói riêng đã có nhiều cố gắng phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp tổ chức hàng vạn lớp tập huấn kỹ thuật, nhất là phương pháp khuyến nông có sự tham gia của người dân; cho nên đến nay đại bộ phận bà con nông dân đã  nắm bắt được những kỹ thuật cơ bản trong sản xuất. Chính những kỹ thuật cơ bản đó đã giúp  đại bộ phận bà con nông dân có thể tự phòng, trị một số đối tượng sâu bệnh trên cây trồng và dịch bệnh trên vật nuôi; góp phần cho việc sản xuất đạt hiệu quả ngày càng cao.</span></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">    Bên cạnh việc tổ chức sản xuất, nhiều hộ còn tổ chức tiêu thụ hàng hóa nông sản và tổ chức dịch vụ vật tư đầu vào của sản xuất vừa góp phần tăng thu nhập, vừa giúp bà con cộng đồng giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.. Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả cao, nhiều nông dân tiêu biểu đã và đang trở thành những nhà tỷ phú xuất hiện ở khắp các vùng, miền trong cả nước, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Công tác xóa đói giảm nghèo vì thế cũng đạt được kết quả to lớn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">    Tuy nhiên bên cạnh những tấm gương tiêu biểu, những gia đình khá giả; cũng còn nhiều gia đình đến nay không còn miếng đất cắm dùi, sống  hoàn toàn nhờ vào làm thuê làm mướn, sống đắp đổi qua ngày, sống trong những cái chòi  dột nát không thể gọi là nhà, con cái thất học, sống lang thang kiếm sống, tương lai mù mịt. Chính vì vậy tỷ lệ hộ nghèo nhiều nơi còn khá cao, thậm chí xóa xong nghèo lại tái nghèo; trong đó có nông dân vùng ĐBSCL - vùng đất trẻ còn khá màu mỡ, một trong những vựa lúa của cả nước.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">    ĐBSCL hiện nay được đánh giá là vùng có trình độ dân trí thấp nhất so vói các vùng khác trong cả nước, nhất là những xà vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Vì vậy việc tiếp tục nâng cao dân trí cho nông dân vùng  ĐBSCL nói chung, nông dân Bạc Liêu nói riêng là công việc cấp bách. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục Đào tạo, mà là nhiệm vụ của toàn dân, của tất cả các cấp, các ngành; trong đó có ngành Nông nghiệp – PTNT. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">    Là một cán bộ khuyến nông, chúng tôi càng trăn trở khi thấy nhiều bà con nông dân hiện  nay sản xuất vẫn chưa có hiệu quả, hoặc học một đàng làm một nẻo. Ngay những đối tượng sâu hại phổ biến như rầy nâu hay bệnh đạo ôn cũng chưa biết phòng, trừ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">    Sở dĩ việc tập huấn kỹ thuật thời gian qua chưa đạt kết quả cao là do một số nguyên nhân cơ bản sau: </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác tập huấn kỹ thuật cho bà con, hàng năm không chủ động đăng ký với ngành Nông nghiệp, hoặc đăng ký không rõ ràng từng chuyên đề, chỉ báo là tập huấn kỹ thuật nông nghiệp chung chung, không rõ chuyên đề về cây, con cụ thể nào.  Chính vì vậy tập huấn chưa đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân, cói thể nói &quot; gãi không đúng chỗ ngứa&quot;.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">        -  Khâu tổ chức lớp tập huấn cũng chưa chu đáo, mời không đúng đối tượng, chẳng hạn nhà không nuôi heo cũng mời đi tập huấn nuôi heo hướng nạc....Một số nông dân khi đi tập huấn không chú ý nghe giảng, mà chỉ ham nói chuyện riêng, học xong chẳng nhớ được điều gì, không tham khảo thêm tài liệu, không đặt câu hỏi cho giảng viên giải thích những vấn đề mình chưa rõ. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Cũng còn hiện tượng những lớp khi đi tập huấn có tài trợ tiền ăn, tiền xe thuộc các chương trình, dự án khuyến nông hay do các Công ty vật tư Nông nghiệp tổ chức có tặng quà khuyến mãi thì đi đông hơn một chút; còn đi tập huấn kỹ thuật nông nghiệp không có hỗ trợ tiền thì chỉ có một – hai chục  người đi dự; lại đi trễ, có khi giảng viên phải đợi hàng giờ mới khai mạc được. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">        - Trong những nguyên nhân tập huấn hiệu quả chưa cao cũng có một số nguyên nhân chủ quan từ phía cán bộ khuyến nông như: tài liệu khuyến nông còn trình bày dài dòng, hình ảnh ít, dùng nhiều từ khoa học khó hiểu,  khi tập huấn giảng chay thiếu trợ huấn cụ, không gắn lý thuyết với liên hệ thực tế, thiếu hình ảnh, mẫu vật; có khi nói quá nhanh, hay nói ngọng, nói quá sâu về lý thuyết; chưa nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người dân; không gợi mở để trao đổi, lắng nghe ý kiến phản hồi hay những câu hỏi từ người dân. Do phần lớn các địa phương  kinh phí   eo hẹp, nên việc  xây dựng các điểm trình diễn hay sản xuất thử  còn quá ít, trong khi đây là  cách đào tạo theo mô hình hay theo công đoạn của sản xuất theo kiểu đào tạo IPM  có hiêu quả nhất, dễ hiểu, mắt thấy, tai nghe và dễ làm theo.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt">        Có lẽ kể cả nông dân và cán bộ khuyến nông cần nhìn nhận đánh giá lại mình để cùng nhau khắc phục những nguyên nhân hạn chế trên, để cùng nhau thục hiện có hiệu quả công tác tập huấn kỹ thuật thường niên, một công việc khá vất vả và tốn kém tiền của và công sức của  Nhà nước và nhân dân. Có như vậy sản xuất nông nghiệp mới giảm được giá thành, nâng cao  chất lượng và hiệu quả, tăng  thu nhập cho người dân, nhất là người trồng lúa; góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao mặt bằng dân trí của nông  dân, đảm bảo sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn mới  một cách  mạnh mẽ và bền vững hơn</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:25 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.683</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:25:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=103</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Phòng trừ bệnh Panama cho chuối</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=129</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8EDC8E9EC38D4057A2633BDF41D0E6F2><p><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0944_Phngtrbnh1.png" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong><em>Bệnh héo rũ Panama của chuối do nấm Fusarium oxysporumf sp.cubense gây ra. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn tăng trưởng nào của cây.Đây là một loại bệnh ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chuối.</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Triệu chứng:</strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cây chuối bị nhiễm bệnh Panama thường có hiện tượng vàng từ lá già bên dưới sau lan dần lên các lá non. Triệu chứng vàng phát triển từ bìa lá và lan vào hướng gân lá. Lá bị bệnh thường héo, cuống gãy và lá treo trên thân giả, đôi khi cuống lá cũng bị gãy ở phần giữa phiến lá. Trên các lá già bị héo khô quanh thân giả, chỉ còn một số lá đọt xanh và mọc thẳng, các lá đọt này có màu xanh nhạt hay hơi vàng hoặc bị méo mó, nhăn nheo, cuối cùng bị héo úa.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cây bệnh chết nhưng thân không ngã đổ, các bẹ ngoài bị nứt dọc, các chồi con vẫn phát triển chung quanh nhưng sau đó cũng bị héo rụi. Cắt ngang thân giả sẽ thấy các bó mạch bị đổi màu nâu vàng, cắt ngang thân thật (củ chuối) các mạch có màu đỏ nâu và bốc mùi hôi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nấm bệnh lưu tồn trong đất và các cây bệnh. Nấm có thể sống hoại sinh trong củ chuối và các bộ phận khác một thời gian dài, lây lan chủ yếu theo cây chuối con và đất có mang mầm bệnh. Nấm bệnh xâm nhập chủ yếu qua chóp rễ hoặc qua vết thương ở rễ. Sau khi xâm nhập, nấm sẽ phát triển trong mạch mọc làm cho cây bị vàng héo.<br>Bệnh thường gây hại nặng trên chuối xiêm, chuối dong. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Biện pháp phòng: </strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nên chọn đất có độ pH hoà và hơi kiềm để trồng chuối. <br>- Không dùng chuối con ở các vườn bị bệnh làm giống, gọt sạch rễ và đất ở gốc trước khi trồng. <br>- Nên bón vôi vào các hố trồng, có thể nhúng gốc chuối con vào dung dịch Bordeaux hay các thuốc gốc đồng như: Funguran, COC 85, Kocide... <br>- Khi phát hiện cây bệnh nên đào bỏ các gốc bệnh và rải vôi khử đất. <br>- Nếu vườn chuyên canh chuối mà bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-3 tháng để diệt mầm bệnh. <br>- Tưới thuốc vào đất ở các vườn chuối con bằng các loại thuốc như Bendazol 50WP, Viben 50BTN, Fudazole 50WP... <br>- Vườn bị bệnh nặng nên đổi trồng các giống chuối khác không mắc bệnh như chuối cau, chuối cơm, chuối già hương...</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><a href="http://agriviet.com" target="_blank"><span style="color:black;font-family:Arial;font-size:10pt;text-decoration:underline"><em>http://agriviet.com</em></span></a><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:45 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.827</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:45:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=129</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KỸ thuẬt trỒng hành lá theo hưỚng GAP</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=139</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass13D7CAB109A448EFA817CB712A7C244A><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Nhu cầu tiêu thụ hành lá (ăn tươi và làm nguyên liệu chế biến gia vị cho các ngành chế biến thực phẩm) hàng năm rất lớn, đưa lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân. Hành lá dễ trồng, vốn đầu tư thấp, thời gian cho thu hoạch nhanh nên hiệu quả kinh tế khá cao. Tuy nhiên, là loại gia vị ăn lá nên đòi hỏi chất lượng, đặc biệt là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao, sản phẩm không có tồn dư thuốc trừ sâu, đạm nitrat. NNVN giới thiệu quy trình sản xuất hành lá an toàn theo hướng GAP (sản phẩm nông nghiệp tốt) của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. </strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Giống: </strong>Hiện có các giống thuần nội địa và một số giống hành lai F1 nhập nội. Các giống hành thuần của nước ta phổ biến như giống hành gốc tím (còn gọi là hành Sậy hay hành Trâu), hành gốc trắng (hành Hương) và hành Đá. Hành Hương lá nhỏ, bụi nhỏ, ăn thơm, được nhiều người ưa chuộng. Hành Trâu lá to, bụi lớn. Hành Đá lá, bụi thuộc dạng trung gian giữa 2 giống trên, thích hợp với việc trồng dày, thị trường ưa chuộng. Ngoài các giống hành thuần nội địa, giống hành lai F1 của Hàn Quốc được nhập vào trồng ở nước ta trong những năm gần đây cho bẹ trắng, lá to, ăn không thơm nhưng cho năng suất cao hơn nhiều so với các giống hành thuần nước ta. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Thời vụ: </strong>có thể trồng quanh năm, tuy nhiên năng suất mùa nắng cao hơn mùa mưa. Thời gian sinh trưởng từ 45 - 50 ngày. Với mùa nắng chú ý sâu xanh da láng, mùa mưa dễ bị bệnh khô đầu lá. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Chọn và làm đất: </strong>Hành lá ưa đất nhiều mùn, thoát nước, ít chua (pH thích hợp 6-6,5), nếu thấp hơn 5,0 cần bón thêm vôi và tro bếp. Đất được cày, phơi ải, bừa kỹ cho tơi, nhỏ, sạch cỏ dại, lên luống cao 35-40cm hình mui luyện cho dễ thoát nước, chân luống rộng 1m, rãnh luống rộng 30cm (tùy theo mùa vụ: mùa mưa luống cao, mùa nắng luống thấp). Xử lý đất trước khi trồng 3 ngày bằng cách rải đều 1kg Mocap/1.000m2 mặt luống rồi dùng cuốc đảo đều và dùng rơm ủ kín mặt luống. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Trồng cây: </strong>Chọn những cây đồng đều, khỏe mạnh, cứng cáp (không quá già, không quá non), còn phấn trắng để trồng. Tùy theo giống và chất lượng giống, lượng giống cần dùng khoảng 180-240kg/1.000m<sup>2</sup>. Trồng với khoảng cách hàng cách hàng 20cm, cây cách cây 20cm, mỗi hốc trồng 1 cây. Khoảng cách trồng tùy thuộc vào mùa vụ, mùa nắng trồng dày hơn mùa mưa. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Phân bón: </strong>Tổng lượng phân dùng cho 1.000m<sup>2</sup> bao gồm: 1-2 tấn phân chuồng hoai + 30kg tro bếp + 12,5kg urê + 28kg lân supe + 8kg kali. Bón lót toàn bộ phân chuồng, tro bếp phân lân và 5kg phân kali. Lượng phân còn lại dùng bón thúc bằng cách hòa nước tưới bằng thùng ô roa. Tưới đều cho hành 7 ngày/lần (khoảng 4-5 lần/vụ), lần đầu tiên khi cây hành hồi xanh (khoảng 7 ngày sau trồng). Ngừng tưới phân trước khi thu hoạch 10 ngày. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Chăm sóc: </strong>Thường xuyên làm sạch cỏ bằng tay, tỉa bỏ lá già, lá bị sâu bệnh và tưới nước đầy đủ 1-2 lần/ngày để cây sinh trưởng nhanh, cho năng suất cao. Có thể tranh thủ tranh thủ trồng xen canh thêm các loại rau khác để tăng thêm thu nhập như các loại cải xanh, cải ngọt, su hào, ngò rí 2 bên mép luống. </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Phòng trừ sâu bệnh: </strong>Thường xuyên theo dõi đồng ruộng, bắt sâu trưởng thành, bắt sâu non, ngắt bỏ ổ trứng, kết hợp làm cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu (chủ yếu là các loại thuốc có nguồn gốc vi sinh và thảo mộc) vào lúc trời mát để phòng trừ các đối tượng hại chính: sâu xanh da láng (thường xuất hiện sớm và gây hại cuối vụ), dòi đục lá (xuất hiện giai đoạn cuối), sâu ăn tạp, bọ trĩ, bệnh cháy lá, khô đầu lá, thán thư, rã bẹ lá (chủ yếu vào mùa mưa). </span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo:<em> sokhcn.bariavungtau.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:50 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.736</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:50:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=139</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bạc Liêu: Triển khai chương trình nuôi nghêu theo hình thức hợp tác, hợp tác xã</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=186</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass89589771781645F0B690C46A9C7277E0><div class=ExternalClass707E1D4AE05D4A56BBB692BA7F013113>
<div class=ExternalClass20698FC8DE1342FC89F7425F741BC098>
<div class=ExternalClassBBA34E8D91E04F9FB891E421CB3C957E>
<div class=ExternalClassE4FBB3AA5ECA49EFB7D1D178E25DA29F>
<div class=ExternalClass693E63BFD7B247C69FD5663C60F87A72>
<p style="text-align:justify"><font size=2>Bạc Liêu với ưu thế có đường bờ biển dài, nhờ phù sa của Sông Cửu Long bồi lắng nên bình quân hàng năm vùng bãi bồi ven biển có khả năng bồi lắng khoảng <img height=146 alt="" width=155 align=left src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/BL_Ngeu.gif">75 – 80m, rất thuận lợi cho nghề nuôi nhuyễn thể, đặc biệt là nghêu.Nhằm phát triển tìm năng kinh tế vùng biển, năm 2010 được sự hỗ trợ từ nguồn vốn chương trình dự án KNKN thuộc Trung tâm KNKN Quốc Gia, Trung tâm KN-KN Bạc Liêu đã triển khai chương trình “Nuôi nghêu theo hình thức hợp tác, hợp tác xã”, kinh phí hỗ trợ cho mô hình này hơn 100.000.000đ, trong đó riêng phần nghêu giống là 86.400.000đ (tương đương 12.000kg nghêu giống , với kích cở giống 300con/kg, đơn giá 18.000đ/kg). Địa điểm triển khai chương trình: HTX Thắng Lợi, xã Hiệp Thành, Thị xã Bạc Liêu.</font></p>
<p style="text-align:justify"><font face=Arial size=2><span style="font-weight:normal">Sau khi triển khai, các thành viên trong hợp tác xã sẽ được cán bộ kỹ thuật trung tâm tập huấn kỹ quy trình kỹ thuật nuôi nghêu thương phẩm về các khâu: chọn bãi nuôi, thả giống, mật độ thả, mùa vụ nuôi, chăm sóc và quản lý, thu hoạch, và một số biện pháp phòng ngừa nghêu chết…</span></font></p>
<p style="text-align:justify"><font face=Arial size=2><span style="font-weight:normal">Chương trình triển khai nhằm góp phần tạo công ăn việc làm cho các nông hộ ven biển, tạo thu nhập, xóa đói giảm nghèo, bố trí lại cơ cấu sản xuất dân cư theo vùng. </span></font></p>
<p class=MsoNormal align=right style="margin-top:12px;margin-bottom:12px;text-indent:36pt;text-align:right"><font face=Arial size=2><b><i>Hoàng Trang - Trung Tâm KNKN Bạc Liêu</i></b></font></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 29/07/2010 5:00 CH</div>
<div><b>ItemImg:</b> <a href="http://www.baclieu.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/BL_nngeu_a.gif">http://www2.baclieu.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/BL_nngeu_a.gif</a></div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.724</div>
]]></description>
      <author>Võ Thị Xuân Thùy</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Mon, 02 Aug 2010 01:38:23 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=186</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KINH NGHIỆM PHÒNG CHỐNG CÚM GIA CẦM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4B6CC3B5FB1D40288F36EDC511F8AD73><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>Ngày 27 tháng 2 năm 2008, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Nông Nghiệp – PTNT do Thứ Trưởng Bùi Bá Bổng chủ trì, đã tổ chức cuộc họp giao ban về phòng, chống cúm gia cầm đối với các tỉnh Phía Nam từ Đà Nẵng trở vào.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Tại hội nghị trên, nhiều nhà khoa học và quản lý, đã đưa ra dự báo là hiện nay một số tỉnh ở ĐBSCL, trong đó có Bạc Liêu nguy cơ tái phát dịch cúm gia cầm là rất cao.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Lãnh đạo một số địa phương, cũng như lãnh đạo Thú Y vùng VI, vùng VII đã báo cáo tình hình dịch cúm gia cầm thời gian qua, đề xuất những giải pháp để phòng, chống dịch cúm gia cầm thời gian tới; đặc biệt nêu lên một số kinh nghiệm để các địa phương khác tham khảo, thực hiện, nhằm giúp cho việc phòng chống cúm gia cầm được chủ động, tiết kiệm và hiệu quả hơn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    Trước hết là tình hình dịch cúm gia cầm trong 2 tháng đầu năm 2008, cả nước đã có 14 tỉnh có dịch cúm gia cầm tái phát, trong đó Miền Bắc có 8 tỉnh, ĐBSCL có 3 tỉnh là: Long An, Trà Vinh và đặc biêt ngày 23 tháng 2 mới đây tỉnh Vĩnh Long đã tái phát cúm gia cầm trên đàn gà địa phương  75 ngày tuổi của huyện Vũng Liêm làm chết 800 con. Nguy hiểm nhất là chỉ trong 2 tháng đầu năm 2008, cúm A, H<sub>5</sub>N<sub>1</sub>đã gây tử vong 5 người. Biểu hiện triệu chứng trên đàn gia cầm khi bị cúm cũng có những điểm khác với trước kia nên khó phát hiện và dễ gây chủ quan cho người chăn nuôi là: khi gà bị cúm tỷ lệ chết thấp, có khi chỉ 20 – 30% tổng đàn, trước kia 70 – 80%; tốc độ chết chậm hơn; gà không có biểu hiện xuất huyết  ở chân như trước kia. </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>Nguyên nhân dẫn đến dịch cúm gia cầm tái phát ở một số tỉnh, do một số nguyên nhân chính như: </strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>    </strong>- Phần lớn cúm gia cầm tái phát tại những nơi có ổ dịch cúm trước, virus vẫn còn lưu hành trên đàn gia cầm, nhất là đàn thủy cầm với tỷ lệ dương tính 11% tổng đàn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Khả năng bảo hộ do chích vaccine trên đàn gia cầm thấp.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do tái đàn gia cầm, nhất là thủy cầm quá nhanh, không đăng ký với địa phương như qui định, nên khó kiểm soát.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Do chích ngừa cho đàn gia cầm, nhất là đàn gà nuôi nhỏ lẻ rất khó khăn; thường chỉ chích mũi 1, chích ngừa mũi 2 tỷ lệ quá thấp.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    -         Chính quyền và cả người chăn nuôi, lơ là, chủ quan.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Một số người chăn nuôi thiếu ý thức, không hợp tác chặt chẽ với cơ qua thú y trong quá trình phòng, chống cúm gia cầm.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    - Công tác kiểm dịch vận chuyển, buôn bán, giết mổ gia cầm còn nhiều hạn chế.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">    <strong>Về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm thời gian tới, Thứ Trưởng Bùi Bá Bổng có một só ý kiến chỉ đạo như sau:</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>        * Về phòng cúm gia cầm: </strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>        </strong>- Phải giám sát dịch bệnh một cách chặt chẽ, không được chủ quan, lơ là mất cảnh giác, nhất là đang vụ thu hoạch lúa Đông – Xuân, nên việc tái đàn thủy cầm và chạy đồng, di chuyển giữa các địa phương là rất lớn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Tuyên truyền, mở rộng áp dụng chăn nuôi gia cầm theo qui trình an toàn sinh học: đảm bảo mua giống sạch bệnh, quản lý thú y nghiêm ngặt, chích ngừa cúm gia cầm đủ 2 mũi và chích ngừa các loại bệnh khác, tiêu độc khử trùng chuồng trại thường xuyên, thu mua, vận chuyển, giết mổ gia cầm đúng quy định của Bộ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Khuyến khích và có chính sách chăn nuôi theo qui mô trang trại, hạn chế nuôi nhỏ lẻ khó kiểm soát.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Đối với vịt chạy đồng, nếu chưa chích ngừa cúm đủ 2 mũi không cho di chuyển qua địa phương khác, nhất là từ vùng trước kia có dịch hay đang có nguy cơ phát dịch.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Tổ chức chích ngừa cho đàn gia cầm một cách triệt để.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        * <strong>Về chống dịch: </strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>        </strong>-         Kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống cúm gia cầm ở các cấp.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        -  Củng cố mạng lưới thú  y cơ sở, mỗi xã phải có 1 thú y viên theo qui định của Chính Phủ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Duy trì chế độ báo cáo thường xuyên, kể cả thông qua đường dây nóng, không được dấu dịch.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thực hiện nghiêm túc qui trình&quot;<strong> 333</strong>&quot;: Phát hiện <strong>NGAY</strong>, tiêu hủy <strong>NGAY</strong>, báo cáo <strong>NGAY</strong>; và &quot; <strong>3 PHẢI</strong>&quot;: <strong>PHẢI</strong> tiêu độc khử trùng,<strong> PHẢI</strong> giám sát dịch bệnh trên người, <strong>PHẢI</strong>  cảnh báo tiêu thụ gia cầm khi có dịch  và &quot;<strong> 3 KHÔNG</strong>&quot;:<strong> KHÔNG</strong> ăn thịt gia cầm bệnh hay chết, <strong>KHÔNG</strong> quăng xác gia cầm bị bệnh chết xuống kênh, rạch; <strong>KHÔNG</strong> bới xác gia cầm đã tiêu hủy lên gây lây nhiễm.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">        - Thứ trưởng cũng thông báo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Cao Đức Phát là:  từ nay trở đi nếu tỉnh nào để dịch cúm gia cầm tái phát, nhất là gây chết người thì Chi cục trưởng Chi cục Thú Y tỉnh đó sẽ bị Bộ trưởng kỷ luật, chủ tịch UBND tỉnh đó sẽ bị Thủ  Tướng Chính Phủ kỷ luật.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:21 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.333</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:21:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nông nghiệp và một số giải pháp khắc phục</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=181</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass14B1776BD8A044AD90568A7B2F4AB5F6><div class=ExternalClass6C0A8BE6192549E78663BB9EA00BABD3>
<div class=ExternalClass1D25DFFE6E5A4F00AAE0B7A7A2450EE3>
<div class=ExternalClass37B6D6216C864D7D842118E46E9F1605>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">FAO cũng cho rằng Việt Nam nói chung và Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra; trong đó Bạc Liêu là 1 trong 3 tỉnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Trong thời gian không xa một diện tích đất  nông nghiệp khá lớn sẽ bị nhấn chìm bởi nước biển dâng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Biến đổi khí hậu hàng ngày, hàng giờ đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Nó đã thể hiện ngay trước mắt chúng ta, như hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh một số Quận ngoại thành  nước triều dâng đã gây ngập úng cục bộ nhiều vùng dân cư gây nhiều khó khăn cho người dân, chẳng khác nào sống trong vùng lũ lụt. Hiện tượng El Nino đã làm cho các tỉnh Miền Bắc bị hạn hán kéo dài, miền Nam và Tây nguyên mùa khô đến sớm và không có mưa nghịch mùa như những năm trước, mùa mưa đến chậm hơn 1 tháng và lượng mưa phân phối không đều giữa các vùng làm cho cây trồng, vật nuôi phát triển kém, dịch bệnh nhiều hơn. Nhiều loại hoa chỉ nở về mùa hè nay do nhiệt độ cao lại nở rực rỡ ngay đầu xuân như Bằng Lăng, Phượng Hồng, Hoàng Hậu, Diệp vàng vv...</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Có lẽ biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất đến an ninh lương thực, do dân số tăng nhanh, trong khi một diện tích đất nông nghiệp sẽ bị giảm đi do: đô thị hóa, nhà ở nông thôn tăng, công nghiệp phát triển chiếm khá lớn đất và lớn nhất là một diện tích đất trồng lúa sẽ bị nhấn chìm do nước biển dâng cao.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Như vậy ngay từ bây giờ chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b>1- Trước hết là giải pháp về thủy lợi:</b> Chính phủ đã và đang đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng và nâng cấp  hệ thống đê biển và hệ thống cống ngăn mặn ven theo bờ biển các tỉnh từ  Quảng Ngãi  đến Hà Tiên, hệ thống cống đập ngăn mặn nội đồng thuộc các tỉnh bị ảnh hưởng bởi nước mặn. Thành lập và củng cố Ban điều tiết nước của Khu vực và của các tỉnh để điều tiết việc đóng mở các cống liên huyện, liên tỉnh để vừa đảm bảo có đủ nước mặn cho nuôi trồng thủy sản, lại không ảnh hưởng đến vùng ngọt đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được an toàn. Xây dựng các đê bao khép kín để bảo vệ các khu dân cư, các vùng trồng cây ăn trái, trồng rau màu không những chống xâm nhập mặn mà còn phòng tránh lũ, lụt vv...</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b>2- Giải pháp qui hoạch giữ đất trồng lúa: </b>Hiện nay dự thảo Nghị định quản lý đất trồng lúa đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ Tướng Chính phủ sắp được ban hành.Tuy nhiên những năm gần đây Chính phủ cũng như các địa phương đã có một số chính sách giữ đất trồng lúa bởi vì: an ninh lương thực do chủ yếu 2 yếu tố quyết định là Dân số + Đất trồng lúa. Nếu diện tích đất trồng lúa và năng suất, sản lượng lương thực như hiện nay  mà  tốc độ tăng dân số không giảm thì tương lai không xa nước ta không còn gạo dư thừa để xuất khẩu. Giữ đất trồng lúa trước hết là kiên quyết không sử dụng đất trồng lúa để làm khu công nghiệp hay sân Golf mà nên sử dụng vùng đất cát bạc màu, hay dùng đất nuôi trồng thủy sản kém hiệu quả cho mục đích này. Đồng thời có chính sách để người trồng lúa có lợi nhuận trên 30% như chỉ đạo của Chính phủ  và làm giàu bằng nghề sản xuất lúa thì người trồng lúa sẽ giữ được đất lúa.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b>3- Giải pháp chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi: </b>Tiếp tục nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng có khả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập úng, có sức đề kháng sâu bệnh cao; kể cả cây trồng biến đổi gen làm thức ăn chăn nuôi hay cây công nghiệp ngắn ngày như: Đậu tương, ngô, bông vải. Lai tạo, gây giống vật nuôi có khả năng chịu nóng, có sức đề kháng cao với dịch bệnh,  những giống thủy sản chịu mặn, những giống vật nuôi sử dụng thức ăn là phế phụ phẩm thủy hải sản hay phế phụ phẩm từ  lương thực để không cạnh tranh lương thực với con người như: động vật ăn cỏ, ăn rơm như trâu, bò, ngựa,  dê, cừu, đà điểu;  những loài thủy cầm và những loài động vật hoang dã như: rùa, ba ba, cá sấu, trăn, rắn, kỳ đà, nhím. Xây dựng và chuyển giao những cây lương thực có củ như khoai môn, khoai mỡ, khoai chuối , khoai mì vv...</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b>4- Giải pháp về mùa vụ:</b> Đối với lúa giảm diện tích vụ Xuân Hè (hay còn gọi là Hè Thu sớm) vì đây là vụ lúa dễ lưu truyền mầm mống sâu bệnh cho vụ Hè Thu. Chuyển đổi những cây sử dụng nhiều nước qua trồng các cây trồng cạn, sử dụng ít nước và có khả năng chịu hạn hay chịu ngập úng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b>5- Giải pháp kỹ thuật:</b> Ngoài việc nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu như trên, các quy trình kỹ thuật cũng cần phải được thay đổi hay cải tiến, hoàn thiện nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình sản xuất. Chẳng hạn qui trình tưới nước tiết kiệm đối với cây trồng, qui trình chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, qui trình tiết kiệm điện năng trong sưởi ấm gia súc, gia cầm non; tiết kiệm nước trong vệ sinh chuồng trại chăn nuôi; tận dụng phần gia súc, gia cầm để tạo khí sinh học làm chất đốt hay chạy máy phát điện công suất nhỏ phục vụ lại chăn nuôi.  Chuyển nuôi thủy sản trong ao, vuông sang dạng nuôi lồng bè hay đăng quần để thích ứng với nước biển dâng cao vv..Nghiên cứu trồng các cây rau, màu trên bờ líp vuông tôm (trong mùa mưa) để làm thức ăn chăn nuôi. Mở rộng, hoàn thiện mô hình Lúa – Tôm sú, Lúa – Tôm càng xanh; đa dạng hóa các loài thủy sản. Nghiên cứu trồng các cây chịu mặn, cây thủy sinh trong vuông tôm như cây Lăn Tượng (Hến biển) để vừa cải tạo môi trường vuông nuôi tôm, vừa có thêm nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ. Nghiên cứu chế biến rơm, rạ, Lăn Tượng, thân cây bắp, thân lá các cây họ đậu bằng cách nghiền nhỏ, đóng bánh dự trữ làm thức ăn cho gia súc nhai lại trong mùa khô thiếu cỏ vv....</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Như vậy có thể nói biến đổi khí hậu đã và sẽ gây ra vô vàn hiểm họa, tuy nhiên nếu chúng ta với khoa học kỹ thuật hiện đại và sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân thì các hậu quả xấu do biến đổi khí hậu gây ra sẽ được khống chế và giảm thiểu rủi ro một cách có ý nghĩa và cuộc sống của chúng ta vẫn được bình yên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:12px 0cm;text-align:right"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b><i>TS Nguyễn Xuân Khoa – TTKNKN Bạc Liêu</i></b></span></span></p>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 15/07/2010 4:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc( FAO) hiện nay nhiệt độ trái đất tăng bình quân hàng năm là 0,5OC, mà theo các nhà khoa học cho biết  nếu nhiệt độ tăng 1OC thì sản lượng lương thực sẽ giảm đi tương đương 10%.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.747</div>
]]></description>
      <author>Nguyen kieu Ngan</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Thu, 15 Jul 2010 13:28:46 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=181</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bạc Liêu: Nuôi tôm sú thành công nhờ phát huy hiệu quả tính cộng đồng</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=171</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass753E682ED91B4AAA946E3C9C8E81DE49><p class=MsoNormal style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><font face=Arial><span style="letter-spacing:0pt">Chúng tôi được biết đến ông Trần Văn Hoàng ngụ ấp Ngọc Được – xã Hưng Thành – huyện Vĩnh Lợi – tỉnh Bạc Liêu là người thành công nhiều năm liền với mô hình nuôi tôm sú công nghiệp – bán công nghiệp (CN – BCN ). Ông Hoàng cho biết ông bắt đầu nuôi tôm sú từ năm 2000 với diện tích 0,5 ha, đến năm 2004 mở rộng lên diện tích 2 ha, mỗi năm thu nhập 300 – 500 triệu đồng, trừ chi phí lãi từ 120 – 170 triệu đồng/năm. Nhờ nuôi tôm sú đúng quy trình kỹ thuật, lại chịu khó tìm tòi học hỏi kinh nghiệm nhiều nơi nên đời sống gia đình ông dần khấm khá, cuộc sống đầy đủ hơn trước.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><font face=Arial><span style="letter-spacing:0pt"><img height=142 width=164 align=left alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/Bac_Lieu_Nuoi_Tom_Su.gif">Khi kể với chúng tôi về thành công trong nuôi tôm sú, ông Hoàng chia sẻ năm 2000, đời sống gia đình ông còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào sản xuất 2 vụ lúa/năm. Sau đó thực hiện chủ trương chuyển đổi cây trồng, vật nuôi của Nhà nước, chính quyền địa phương đã cho phép chuyển từ sản xuất lúa sang nuôi trồng thủy sản. Ông Hoàng đã mạnh dạn đầu tư ủi 0,5 ha đất canh tác lúa chuyển sang nuôi tôm sú và áp dụng hình thức nuôi quảng canh cải tiến với mật độ 5 con/m2”. Nhờ vào bản tính cần cù, siêng năng, điều kiện môi trường thuận lợi nên năm đầu tiên ông nuôi khá thành công, thu nhập gần 40 triệu, trừ chi phí lãi hơn 30 triệu đồng. Từ thành công bước đầu, ông tiếp tục thực hiện mô hình nuôi tôm sú với mức đầu tư ngày càng quy mô hơn. Sang năm 2004, khi đã tích lũy được vốn đầu tư sản xuất tương đối khá nên ông Hoàng quyết định chuyển sang nuôi tôm sú ứng dụng quy trình nuôi là: thả tôm sú với mật độ bán công nghiệp, đầu tư suốt vụ nuôi ở mức độ công nghiệp. Từ năm 2004 – 2008, ông Hoàng đầu tư nuôi tôm sú với diện tích 2 ha và ứng dụng quy trình nuôi này một cách rất hiệu quả. Ông cho biết: “Sau khi cải tạo ao nuôi thật kỹ, lấy nước vào ao nuôi đã qua xử lý triệt để thì tiến hành thả tôm giống (đã qua xét nghiệm PCR) với mật độ 12 – 15 con/m2”. Sau thời gian nuôi 5 – 6 tháng, ông thu hoạch khoảng 4 – 6 tấn tôm/vụ, cho thu nhập 300 – 500 triệu đồng/năm và lãi từ 120 – 170 triệu đồng/năm.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><font face=Arial><span style="letter-spacing:0pt">Trao đổi về kinh nghiệm nuôi tôm sú, ông Hoàng cho biết trong những năm qua, mỗi vụ nuôi ông đều đầu tư thật kỹ các khâu từ cải tạo, chọn con giống, chọn thức ăn, nuôi tôm theo quy trình vi sinh… mà ngành nông nghiệp khuyến cáo. Ông và một vài người nuôi tôm sú lân cận đã hình thành tổ, nhóm sản xuất trong quá trình nuôi. Vì thế, tính cộng đồng được phát huy tốt hơn, hạn chế dịch bệnh lây lan, duy trì diện tích và sản lượng tôm nuôi nhờ vậy mà hiệu quả sản xuất được tăng lên, kinh tế gia đình của người nuôi tôm ngày càng ổn định”.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><font face=Arial><span style="letter-spacing:0pt">Được biết, đã có nhiều người nuôi tôm sú tìm đến ông để được học hỏi kinh nghiệm và được ông tận tình hướng dẫn. Với những thành công đạt được trong nhiều năm qua, ông Hoàng được UBND xã Hưng Thành đề cử là nông dân sản xuất giỏi của địa phương và đi báo cáo điển hình nông dân sản xuất giỏi ở cấp huyện, tỉnh. Ông Hoàng còn được trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho những nỗ lực, cống hiến trong suốt những năm qua trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của địa phương.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-weight:700;color:black;font-family:Arial;letter-spacing:0pt">Trần Thanh Thiện - Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bạc Liêu</span></span></p>
<p align=right style="margin-top:12pt;margin-bottom:12pt"><span style="font-size:x-small"><b><i><span style="color:black;font-family:Arial">Theo Website Trung Tâm KNKN Quốc Gia</span></i></b></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 30/06/2010 9:05 SA</div>
<div><b>ItemImg:</b> <a href="http://www.baclieu.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/Bac_Lieu_Nuoi_Tom_Su1.gif">http://www2.baclieu.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/Bac_Lieu_Nuoi_Tom_Su1.gif</a></div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Những năm qua, chính quyền địa phương cùng với bà con nông dân xã Hưng Thành luôn phấn đấu phát triển kinh tế nông nghiệp, thủy sản của địa phương. Nhờ thế mạnh sẵn có về điều kiện thổ dưỡng, khí hậu, người dân cần cù lao động nên các mô hình sản xuất kinh tế trên địa bàn có nhiều bước phát triển mới; riêng các mô hình nuôi trồng thủy sản được bà con thực hiện mang lại kết quả khá tốt. Nhiều nông dân trên địa bàn xã Hưng Thành có thu nhập bình quân khá, đời sống ngày càng đầy đủ hơn.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.157</div>
]]></description>
      <author>Nguyễn Thị Đài Loan</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Wed, 30 Jun 2010 02:09:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=171</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Danh nhân Phan Đăng Lưu (1901-1941)</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=176</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE697D22FDBED4CF79AD489F57BEDE6B9><div class=ExternalClass6F842AF41BC545A997CBA9F2D7146861>
<p><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><img height=177 alt="" width=130 align=left src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload_BL/SiteChinh/PhanDangLuu1.gif">Tên gọi : <strong>PHAN ĐĂNG LƯU</strong>  </span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Bí danh : Tam Sương  </span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Ngày sinh : 2/1/1901 </span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Ngày hy sinh : 24/5/1941 </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Phan Đăng Lưu sinh ngày 2/1/1901 tại xã Tràng Thành(nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Thân sinh Phan Đăng Lưu tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Chu Trạc ở vùng Yên Thành. Năm lên sáu tuổi, Phan Đăng Lưu theo học chữ Hán, sau đó anh vào học trường tiểu học Vinh. Tốt nghiệp tiểu học, anh thi vào trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang. Ra trường với bằng tốt nghiệp hạng ưu, anh được bổ làm nhân viên tập sự tại Sở Canh nông Bắc Kỳ. Ngày 10/10/1924, anh đến nhận việc tại Trại nuôi tằm Thanh Ba(tỉnh Phú Thọ) và một năm sau anh được đổi về Sở Canh nông Nghệ An. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Là một thanh niên có tư tưởng chống thực dân Pháp, Phan Đăng Lưu nhanh chóng bắt liên lạc với các thầy giáo trong Hội Phục Việt và tích cực tham gia các hoạt động yêu nước ở thành phố Vinh. Anh tìm đọc và phổ biến sách báo tiến bộ, bàn luận thời cuộc với những người yêu nước và ký tên vào bản yêu sách đòi thực dân Pháp trả lại tự do cho nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu. Biết rõ việc làm của anh, ngày 3/31926 Sở Canh nông Nghệ An đổi anh ra trại nuôi tằm Diễn Châu. Mười tháng sau, khâm sứ Trung Kỳ chuyển anh vào trại sản xuất trứng tằm Bình Định. Ngày 7/4/1927, chúng lại đổi anh vào làm việc tại trại nghiên cứu canh- ky- na Thượng Đồng Nai (tỉnh Lâm Đồng). Được một tháng, khâm sứ Trung Kỳ ra quyết định thải hồi vì những hoạt động yêu nước của Phan Đăng Lưu. Đây là một cơ hội tốt để anh trở về quê hương hoạt động. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Tháng 2/1928, Phan Đăng Lưu được kết nạp vào Hội Phục Việt(lúc này hội đổi tên là Hưng Nam). Anh cùng thầy giáo Trần Văn Tăng xây dựng cơ sở Hội ở Yên Thành. Thời gian sau, anh được Tổng bộ cử vào Huế phụ trách “Quan hải tùng thư”, cơ quan xuất bản sách báo tiến bộ của Hội Hưng Nam. Ngày 14/7/1928, Hội Hưng Nam đổi tên là Tân Việt các mạng Đảng. Ngày 12/12/1928, Phan Đăng Lưu và Hà Huy Tập được Tổng bộ cử sang Quảng Châu để tìm hiểu thái độ của Tổng bộ Thanh niên về vấn đề hợp nhầt hai tổ chức. Nhưng lúc này Tổng bộ Thanh niên ở Quảng Châu đã rút vào hoạt động bí mật vì bị Chính phủ Tưởng giới Thạch khủng bố nên sau 5 tháng không bắt được liên lạc, Phan Đăng Lưu trở về nước. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Cuối năm 1929, anh lại tìm đường sang Quảng Châu, nhưng đến Hải Phòng thì bị mật thám Pháp vây bắt. Ngày 21/1/1930, anh cùng với 60 đảng viên của Đảng Tân Việt bị toà án Nam triều đưa ra xét xử, anh bị chúng kết án 3 năm tù khổ sai đày đi Ban Mê Thuột. Trong tù anh cùng các bạn tù bí mật ra tờ báo “Doãn Tê tuần báo” (báo hàng tuần của người Kinh và Ê đê) sau đổi báo là Bôn - sơ - vích. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Năm 1933, nhân một số đảng viên người Nghệ Tĩnh được tha, Phan Đăng Lưu gửi về quê một bài báo tố cáo chế độ hà khắc của thực dân Pháp ở nhà tù Ban Mê Thuột, anh bị chúng tăng án lên 5 năm khổ sai chung thân và đưa vào xà lim. Giữa năm 1936, Phan Đăng Lưu được thả tự do nhờ phong trào đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và thả tù chính trị phát triển ở Pháp và Đông Dương. Tháng 8/1936, anh bắt liên lạc với Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương. Và được Trung ương chỉ định vào Ban chấp hành lâm thời Xứ uỷ Trung Kỳ, phụ trách phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp. Ngày 27/3/1937, đồng chí Phan Đăng Lưu dẫn đầu đoàn đại biểu thay mặt đồng bào các giới, các ngành đến Toà Khâm sứ Trung Kỳ đưa bản yêu sách với 33 điều đòi các quyền tự do, dân chủ cơm áo, hoà bình cho ông Gô đa, trưởng phái đoàn của chính phủ Mặt trân nhân dân Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương. Được sự uỷ nhiệm của Xứ uỷ Trung Kỳ, Phan Đăng Lưu đã cùng một số trí thức yêu nước mua lại tên báo “Sông Hương” chuyển thành “Sông Hương tục bản”, tờ báo của những người cách mạng. Ngày 19/6/1937, tờ “Sông Hương tục bản” ra mắt bạn đọc, những sau bốn tháng thì tờ báo đóng cửa. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Tháng 9/1939, Phan Đăng Lưu được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được phân công chỉ đạo phong trào Nam Kỳ.. Cùng với Xứ uỷ Nam Kỳ, đồng chí đã góp phần lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ tiến lên một bước mới. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Sau ngày Pháp đầu hàng Đức, phát xít nHật nhảy vào Đông Dương, trước khí thế sôi sục cách mạng của quần chúng, tháng 7/1940 Xứ uỷ Nam Kỳ họp để nhận định tình hình và đề ra chủ trương khởi nghĩa. Thấy điều kiện chủ quan và khách quan chưa có lợi, Trung ương Đảng quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7; đồng thời giao đồng chí Phan Đăng Lưu truyền đạt lại chủ trương đó cho xứ uỷ Nam Kỳ. Phan Đăng Lưu vừa về đến Sài Gòn thì bị thực dân Pháp bắt giam vào ngày 22/11/1940. Sáng hôm sau cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch của Xứ uỷ Nam Kỳ. </span></span></span></p>
<p align=justify style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Cuộc khởi nghĩa đã bị thực dân Pháp dìm vào trong biển máu. Đồng chí Phan Đăng Lưu bị kết án tử hình trong phiên toà ngày 3/3/1941. <br>
Ngày 24/5/1941 đồng chí Phan Đăng Lưu đã hy sinh anh dũng trước mũi súng quân thù.</span></span></span></p>
<p align=right style="margin-top:12px;margin-bottom:12px"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span><b>Theo</b> <b><i>Website Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh</i></b></span></span></span></p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề tư liệu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 27/05/2010 2:55 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Phan Đăng Lưu sinh ngày 2/1/1901 tại xã Tràng Thành(nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An...</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.889</div>
]]></description>
      <author>Nguyễn Thị Đài Loan</author>
      <category>Chuyên đề tư liệu</category>
      <pubDate>Thu, 01 Jul 2010 08:04:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=176</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thành công với mô hình nuôi đa canh, đa con kết hợp khép kín</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=166</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass62BADEFBD3D6443FA8E812660BFB1A54><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_1001_Thnhcngvi1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phòng, đất nước độc lập. Những người lính chiến đấu trong quân đội trở về với quê hương, gia đình mình. Người thì lo làm kinh tế, người thì tiếp tục phục vụ cho địa phương nơi mình sinh sống. Vào những ngày này, chúng tôi có dịp gặp rỡ và trao đổi với người cựu chiến binh làm kinh tế giỏi của huyện Vĩnh Lợi, đó là ông Võ Văn Dện cư ngụ ở ấp Thông Lưu B - Thị trấn Châu Hưng - Vĩnh Lợi. Ông là người thành công với mô hình nuôi đa canh, đa con kết hợp khép kín với quy mô diên tích gần 1 ha.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ông Dện cho biết sau thời gian suy nghĩ cẩn thận, ông quyết định thực hiện mô hình nuôi heo – cá sấu – baba – bò – cá - rẫy kết hợp khép kín với quy mô gia đình bắt đầu từ năm 2006. Nhờ biết tận dụng diện tích đất sẵn có và vận dụng sáng tạo những kiến thức, kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm nên ông đã thực hiện mô hình thành công suốt 5 năm qua, mỗi năm thu nhập từ 100 - 220 triệu đồng. Năm 2009, là năm ông thành công nhất với mô hình này và đã thu về gia đình hơn 220 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, lãi trên 110 triệu đồng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ông Dện tâm sự: trước khi thực hiện mô hình này đời sống gia đình khó khăn, thu nhập chính là từ trồng lúa, làm rẫy chỉ hơn 20 triệu đồng/năm. Sau đó ông bắt đầu chăn nuôi thêm heo, bò để cải thiện thu nhập. Nhờ biết tính toán cách làm ăn hợp lý nên dần dần ông tích luỹ được số vốn kha khá để mở rộng quy mô sản xuất của gia đình. Năm 2008, ông tiến hành nuôi thêm cá sấu, baba. Lúc đó, trang trại của ông có 7 heo nái và 30 con heo lứa, mỗi năm đẻ khoảng 120 heo giống. Về ba ba, ông đầu tư hơn 3 triệu đồng để đào ao rộng 1000 m2 nuôi 1000 con baba. Ông cũng đầu tư gần 7 triệu đồng để xây chuồng, trại và nuôi 50 con cá sấu. Sang năm 2009, ông tiếp tục đầu tư hơn 20 triệu đồng để nuôi 100 con cá sấu (giá 320 ngàn đồng/con) và tiếp tục duy trì, phát triển đàn heo, baba... Hiện nay, đàn cá sấu và baba đã được 10 tháng tuổi đang phát triển rất tốt: cá sấu đạt trọng lượng 6 – 8 kg/con, trọng lượng trung bình của ba ba 500-700 g/con, uớc sản lượng khoảng 550 kg. Năm 2010, ông nuôi thử nghiệm 8 con heo mọi.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi tham quan quy mô trang trại gia đình của ông, chúng tôi thấy rằng yếu tố quyết định thành công của mô hình này là ông Dện biết kết hợp một cách khoa học các đối tượng nuôi thông qua việc bố trí khu vực nuôi hợp lý, sáng tạo. Cá nước ngọt như: rô phi, mè trắng, chép… sẽ được nuôi để cung cấp thức ăn cho cá sấu, baba; nước thải từ chuồng nuôi cá sấu, heo sau khi được xử lý sẽ được sử dụng để tưới rẫy, nuôi cá… Ông Dện còn cho biết thêm, trong chăn nuôi thì khâu vệ sinh thú y và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi là rất quan trọng. Đối với nuôi heo, định kỳ 7– 10 ngày ông tiêm phòng cho heo con một lần, trộn các men tiêu hóa, chất dinh dưỡng vào thức ăn để tăng đề kháng cho heo. Đối với cá sấu, baba, ông thường xuyên kiểm tra sức khỏe và thay nước định kỳ để đảm bảo môi trường tốt nhất cho chúng phát triển.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với những nỗ lực và thành công đạt được trong những năm qua, ông vinh dự được tặng nhiều giấy khen, bằng khen của UBND tỉnh và kỷ niệm chương của hội Cựu chiến binh Việt Nam tỉnh Bạc Liêu về những cống hiến của mình cho sự phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn. Ông Võ Văn Dện cũng luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với bà con nông dân để ngày càng có nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu quả cao hơn.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo</strong>
			<strong><em>www.khuyennongvn.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 5:02 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.357</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 10:02:57 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=166</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những biện pháp cơ bản khắc phục ruộng phèn và hạn chế tác hại của phèn đến cây lúa</title>
      <link>http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=148</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCE6160B1E9C34EB6B516795E4D85F7FC><p style="text-align:justify"><img align=left src="/chuyende/Lists/Photos/052110_0953_Nhngbinphp1.gif" alt=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đất phèn hay còn gọi là đất chua để chỉ loại đất có độ pH thấp, thường là từ 5,5 trở xuống, có khi pH chỉ còn 3 hoặc 2. Ion nhôm (Al) và sắt (Fe) là tác nhân gây ra đất phèn. Tuỳ theo điều kiện hình thành mà có nơi Fe chiếm ưu thế, có nơi Al chiếm ưu thế, có nơi 2 thành phần này cùng tồn tại. Khi quan sát màu nước trong ruộng, biểu hiện rõ là ở các góc ruộng hoặc quanh bờ. Ở những ruộng mặt nước trong xanh, đất quanh bờ có màu xám ít thấy cỏ mọc hoặc chỉ thấy có cỏ năn mọc lác đác từng chòm thì ruộng đó là phèn nhôm, còn ở nơi mặt nước có váng màu đỏ thì ruộng đó bị phèn sắt. Mức độ ruộng bị nhiễm phèn nhiều hay ít tuỳ thuộc vào độ nông, sâu của tầng sinh phèn. Nếu tầng sinh phèn ở sâu, nằm dưới mặt đất 1-2m hoặc sâu hơn thì tỷ lệ Fe, Al ở trên bề mặt ruộng ít hơn. Còn những ruộng có tầng sinh phèn ở nông, chỉ cách lớp đất mặt dưới 1m (50-60cm chẳng hạn) thì người ta thường nói đó là đất phèn hoạt động, lượng Fe, Al trong ruộng sẽ nhiều hơn và biện pháp cải tạo sẽ khó khăn hơn.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cây lúa rất mẫn cảm với ngộ độc phèn, nhất là giai đoạn cây lúa còn nhỏ, khi ruộng lúa còn nhỏ 3-4 ngày, phổ biến nhất là giai đoạn 10-30 ngày sau khi sạ. Sự ngộ độc phèn của cây lúa thường diễn ra ở rễ, làm cho rễ có màu đen, ngắn và dễ gãy. Lúa bị ngộ độc phèn thể hiện bằng sự kém đẻ nhánh, cây lùn lại, hạt lép nhiều, lá lúa trở màu vàng cam, lá non bị đỏ, lá lúa thường có màu xanh đậm, mọc thẳng hơn lá bình thường do thiếu lân, cây kém nở bụi, sinh trưởng kém, nhiều hạt lép. Có những giống lúa thiếu lân thì lá già trở nên màu vàng cam hoặc hơi tím và dẫn đến thiệt hại lớn về năng suất. Sự thiếu lân thường xảy ra trên đất chua, đất nhiễm phèn, đất than bùn và đất kiềm. Trên đất trồng lúa chủ yếu là bị nhiễm độc do phèn sắt gây ra. Trồng lúa trên đất bị nhiễm phèn, nếu không có biện pháp khắc phục thì năng suất sẽ rất thấp.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để khắc phục thiệt hại do phèn sắt gây ra cần áp dụng những biện pháp khắc phục như:</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Trên từng mảnh ruộng cần trang phẳng mặt ruộng vì chỗ trũng thường hay bị nhiễm phèn và giúp lúa mọc và phát triển đồng đều.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Cần xây dựng hệ thống thuỷ lợi nội đồng thật tốt cho cả cánh đồng và riêng mỗi ruộng lúa của các gia đình để dẫn nguồn nước ngọt tưới khi cần và thoát thuỷ tốt khi rút nước. Trên mỗi mảnh ruộng cần đào mương xung quanh ruộng để chủ động tưới tiêu, mỗi khi ruộng bị nhiễm phèn có thể xả nước một cách dễ dàng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Trong quá trình làm đất xuống giống, nhất là vụ hè thu, không nên xới đất sâu quá 10 cm để không đụng tới tầng sinh phèn sẽ tránh được phèn xì lên mặt đất gây hại cho cây lúa non.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Sử dụng nước ngọt để rửa phèn: nước ngọt đóng vai trò quan trọng nhất trong việc rửa phèn. Tận dụng những đợt nước cao cho nước vào ruộng để xả phèn xuống những kênh mương, luôn có lớp nước mới trên mặt ruộng sẽ ém được phèn. Không nên để ruộng lúa bị cạn nước. Tranh thủ những đợt mưa lớn xả hết nước trên ruộng để tiếp tục có chỗ chứa nước mưa mới. Những trận mưa lớn liên tục sẽ làm độ phèn trong đất và nước giảm rất nhiều.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Cày ải, phơi khô đất vào mùa khô, dọn cỏ bằng cách gom hết lên bờ, phơi khô và đốt, không nên cắt và cày vùi vì nếu chưa kịp phân huỷ sẽ sinh ra ngộ độc hữu cơ.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Bón phân cân đối giữa các loại phân đạm, lân và kali. Ruộng bị nhiễm phèn cần bón thêm những loại phân có chứa nhiều lân dễ tiêu như DAP, NPK. Cũng có thể bón thêm sufer lân, vôi bột.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Phun thêm phân bón lá chuyên dụng cho lúa như Hydrophos để cây hấp thụ dễ dàng và giúp cây phục hồi sức khoẻ, ra rễ mới, sử dụng Till Super trước và sau khi trổ giúp lúa trổ đều, hạt lúa mẩy và màu sắc sáng bóng.</span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p><p style="text-align:right"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Theo<em> www.khuyennongvn.gov.vn</em></strong></span><span style="font-family:Tahoma;font-size:8pt">
		</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Chuyên đề khoa học</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/05/2010 4:54 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.044</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Chuyên đề khoa học</category>
      <pubDate>Fri, 21 May 2010 09:54:52 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=148</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>