Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX tại kỳ họp thứ 10 ngày 06/11/1996 về việc chia tách tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Ngày 01/01/1997, tỉnh Bạc Liêu chính thức được tái lập và đi vào hoạt động, có 4 đơn vị hành chính cấp huyện là thị xã Bạc Liêu và 3 huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Hồng Dân với 48 đơn vị xã, phường, thị trấn. Đến năm 2000, huyện Hồng Dân được tách thành hai huyện Phước Long và Hồng Dân, năm 2002, huyện Gía Rai được tách thành hai huyện Gía Rai và Đông Hải, năm 2005, huyện Vĩnh Lợi được tách thành hai huyện Vĩnh Lợi và Hoà Bình, đồng thời một số đơn vị xã, phường, thị trấn cũng được chia tách cho phù hợp với thực tế. Hiện nay, Bạc Liêu có 6 huyện, 1 thành phố với 64 đơn vị xã, phường, thị trấn (50 xã, 7 thị trấn, 7 phường).
Bạc Liêu là tỉnh duyên hải khu vực Tây Nam Bộ, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích đất tự nhiên 2.594 km2 chiếm 0,78% diện tích cả nước. Là tỉnh đồng bằng ven biển nên Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, có bờ biển dài hơn 56 km, thuộc khu vực biển bồi nên hàng năm bồi lắng ra biển hàng chục mét, có sông ngòi chằng chịt, đặc biệt là hệ thống kênh đào tiêu úng sổ phèn từ nội đồng ra biển Đông, có các cửa biển lớn như cửa Gành Hào, cửa Cái Cùng... đó là những điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ hải sản. Ngoài ra Bạc Liêu còn có vùng sản xuất muối truyền thống (khoảng 3.000 ha) với sản phẩm muối ăn nổi tiếng cả nước; có hệ thống rừng ngập mặn và các loại rừng khác (trong đó có 4 vườn chim lớn) với hệ sinh thái động thực vật phong phú đa dạng rất thích hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
Bạc Liêu là tỉnh “đất không rộng, người không đông” (năm 1997 dân số Bạc Liêu chỉ có 724.211 người, thấp nhất khu vực ĐBSCL) nhưng rất giàu bản sắc văn hóa và truyền thống cách mạng. Ba dân tộc anh em Kinh, Khơ-me, Hoa đã đoàn kết gắn bó nhau từ những ngày đầu khai phá vùng đất này, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc hòa quyện vào nhau tạo nên nét văn hóa riêng có của Bạc Liêu. Mặc dù không nhiều, nhưng Bạc Liêu cũng có những công trình kiến trúc, văn hóa, tín ngưỡng, các tác phẩm văn học, nghệ thuật nổi tiếng... do chính khối óc và tài năng của những người con quê hương Bạc Liêu sáng tạo nên. Người Bạc Liêu rất giàu lòng nhân ái, hào hiệp, phóng khoáng và hiếu khách.
Người dân Bạc Liêu cũng rất dũng cảm, kiên cường. Ngay từ trước khi có Đảng lãnh đạo, người nông dân Bạc Liêu đã đứng lên chống lại sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bọn địa chủ tay sai, điển hình là hai cuộc đấu tranh của nông dân tại làng Ninh Thạnh Lợi (huyện Hồng Dân, năm 1927) và đồng Nọc Nạng (huyện Giá Rai, năm 1928). Khi có sự lãnh đạo của Đảng, tính kiên cường, dũng cảm của người dân Bạc Liêu càng được phát huy, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu có truyền thống cách mạng kiên cường, bất khuất trong kháng chiến, nhưng đồng thời cũng rất khoan dung, độ lượng. Ngày 23/8/1945, Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân Bạc Liêu đứng lên giành chính quyền về nhân dân mà không bên nào đổ máu. Sau 30 năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ trường kỳ, gian khổ nhưng rất oai hùng, ngày 30/4/1975, Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu một lần nữa giành lại chính quyền trong hòa bình và ấm áp tình người.Trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu đã và đang tiếp tục phát huy tiềm năng, thế mạnh kinh tế, văn hóa; truyền thống cách mạng, đoàn kết, thống nhất, tích cực xây dựng và phát triển tỉnh nhà, góp phần vào sự phát triển chung của khu vực và cả nước.
Nhìn lại chặng đường 15 năm qua, những ai quan tâm đến Bạc Liêu không khỏi bồi hồi, xúc động và phấn khởi, tự hào trước những thành tựu của tỉnh ngày hôm nay. Tuy nhiên để đạt được những thành tựu đó, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Bạc Liêu đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Mặc dù giàu tiềm năng, nhưng khi mới tái lập, điểm xuất phát của tỉnh rất thấp và lạc hậu so với các tỉnh khác trong khu vực. Là tỉnh nằm xa các trung tâm kinh tế lớn nên điều kiện thu hút đầu tư, giao thương khó khăn, nền kinh tế thuần nông, sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, thương mại, dịch vụ kém phát triển, kết cấu hạ tầng cả nông thôn lẫn thành thị đều yếu kém, đời sống của đại bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao (28,9% theo tiêu chí cũ), hạ tầng y tế, giáo dục và các mặt văn hóa, xã hội khác không đáp ứng được yêu cầu. Lúc mới tái lập, Bạc Liêu là một trong những tỉnh nghèo nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Thêm nữa, chưa tròn một năm sau ngày tái lập, tháng 11 năm 1997, tỉnh Bạc Liêu lại bị cơn bão số 5 tàn phá gây thiệt hại nặng nề cho nhiều vùng trong tỉnh... Trước những khó khăn chồng chất như vậy, Đảng bộ đã có nhiều chủ trương đúng đắn, toàn diện, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, tạo được sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu đã đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, từng bước đưa tỉnh nhà vươn lên phát triển cùng với các tỉnh trong khu vực.
Để khai thác thế mạnh của tỉnh là nông nghiệp, thủy sản và sản xuất muối, Tỉnh ủy đã chỉ đạo tập trung đầu tư phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, trong đó nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tạo sự đột phá về kinh tế. Từ đó, những diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản. Đến nay, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đã đạt 133.455 ha (trong đó có 18.420 ha tôm muôi công nghiệp, bán công nghiệp). Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản năm 2011 đạt 251.120 tấn, tăng gấp 5 lần so với năm 1997. Diện tích sản xuất lúa mặc dù có thu hẹp nhưng được quan tâm đầu tư nhiều hơn về hạ tầng thủy lợi, thủy nông nội đồng. Với hệ thống cống ngăn mặn thuộc chương trình Ngọt hóa bán đảo Cà Mau và các ô đê bao khép kín đã chủ động được nguồn nước tưới, sản xuất từ 2 đến 3 vụ mỗi năm, cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nên năng suất, sản lượng lúa không ngừng được nâng lên. Đến nay, tổng diện tích gieo trồng lúa đạt 164.628 ha, sản lượng lúa đạt gần 900.000 tấn, đảm bảo cân đối nhu cầu lương thực trong tỉnh và một phần lúa hàng hoá xuất khẩu. Nghề làm muối cũng được tỉnh quan tâm đầu tư, nhất là hỗ trợ vốn và hướng dẫn kỹ thuật để người diêm dân đầu tư sản xuất muối trắng với năng suất, chất lượng cao hơn.
Để giảm bớt sự cách biệt về đời sống của nhân dân khu vực nông thôn với khu vực thành thị. Sau ngày tái lập tỉnh, Tỉnh ủy chủ trương tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Đây là chủ trương đáp ứng được nguyện vọng của người nông dân, lực lượng chiếm số đông trong nhân dân, đồng thời cũng thể hiện tình cảm, trách nhiệm, sự thủy chung của Đảng bộ với vùng căn cứ kháng chiến, đồng thời là điều kiện cần để tạo động lực cho sự phát triển của khu vực nông thôn. Từ đó, kinh tế, xã hội khu vực nông thôn trong tỉnh đã từng bước phát triển, thu nhập và đời sống nông dân được nâng lên, cơ cấu kinh tế, cơ cấu sử dụng lao động ở nông thôn từng bước chuyển dịch, hiện nay số hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh dịch vụ ở nông thôn đã chiếm 32,11%. Đến nay, hệ thống đường giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, bưu điện... ở các xã đã được xây dựng cơ bản. Nếu năm 1997, hầu hết các xã trong tỉnh đều nằm trong tình trạng cô lập, tách biệt với thành thị, thì hiện nay đã có 35/50 xã có đường ô tô đến trung tâm, tất cả các xã đều có điện lưới quốc gia, 96% tổng số hộ trong tỉnh được sử dụng điện. Những kết quả đạt được từ chủ trương đầu tư cho nông thôn của tỉnh là tiền đề thuận lợi để Đảng bộ lãnh đạo triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Chính phủ. Sau gần 01 năm triển khai thực hiện chương trình này trên địa bàn tỉnh, bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực, làm thay đổi hàng ngày đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân nông thôn.
Bên cạnh chủ trương đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, Tỉnh ủy cũng nhận thấy được tầm quan trọng của việc đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch và vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế của các khu đô thị, nhất là từ khi nông nghiệp và nông thôn đã có bước phát triển ổn định. Chính vì vậy, trong 15 năm qua, nhất là từ năm 2007 đến nay, tỉnh đã có nhiều chính sách thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch và đầu tư cho hạ tầng đô thị. Do đó, cơ cấu kinh tế trong thời gian qua đã chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại tăng từ 42,92% năm 1997 lên 48,3% vào năm 2011; kinh tế nông nghiệp giảm từ 57,08% năm 1997 xuống còn 51,7% vào năm 2011.
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng có sự phát triển tích cực, khu công nghiệp Trà Kha, Láng Trâm, Ninh Qưới của tỉnh đang được xây dựng, một số nhà máy đã đi vào hoạt động, nhiều dự án công nghiệp lớn đã và đang được đầu tư và triển khai, đặc biệt là nhà máy điện gió Bạc Liêu (nhà máy điện gió đầu tiên của miền Tây Nam bộ), nhà máy bia Sài Gòn, khu cao ốc phức hợp cao tầng Bạc Liêu Tower, nhà máy bao bì... Hệ thống các nhà máy chế biến nông, thủy hải sản và muối hoạt động khá hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu của tỉnh. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có hơn 30 nhà máy lớn và hàng chục ngàn cơ sở chế biến thủy sản lớn nhỏ với tổng công suất hơn 80.000 tấn/năm; 42 nhà máy xay xát lúa gạo với tổng công suất trên 50.000 tấn/năm; 02 nhà máy chế biến muối với tổng công suất gần 30.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, tỉnh đã trình và được Chính phủ phê chuẩn đưa vào quy hoạch phát triển 02 dự án là Trung tâm nhiệt điện và Cảng biển Gành hào. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2011 trên địa bàn tỉnh đạt 4.356 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần so với năm 1997; tăng bình quân hàng năm khoảng 15,2%. Trong 15 năm, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp của tỉnh đã tăng thêm gần 1.373 cơ sở (từ 7.509 cơ sở lên 8.882 cơ sở).
Thương mại, dịch vụ phát triển mạnh, chất lượng các dịch vụ nâng lên, đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số trung tâm thương mại, chợ đầu mối, hầu hết các xã đều có chợ nông thôn. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá năm 2011 đạt khoảng 18.060 tỷ đồng, tăng gấp 15,3 lần năm 1997. Hoạt động xuất khẩu tăng nhanh, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, gạo và các mặt hàng nông sản khác. Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 260 triệu USD, gấp hơn 4 lần năm 1997.
Để thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế vào khai thác tiềm năng du lịch của tỉnh, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch với mục tiêu, nhiệm vụ là khai thác có hiệu quả và bền vững tiềm năng du lịch sẵn có của tỉnh, đa dạng hóa các loại hình như du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa, tín ngưỡng, nhằm đưa Bạc Liêu trở thành điểm du lịch hấp dẫn của đồng bằng sông Cửu Long, Nam bộ và cả nước. Cụ thể hóa chủ trương trên, ngành du lịch của tỉnh đã quy hoạch và đang thu hút đầu tư kinh doanh các loại hình du lịch sinh thái. Trong những năm vừa qua, hoạt động du lịch phát triển khá, lượng khách đến tham quan, nghiên cứu các khu di tích văn hoá, lịch sử kết hợp với du lịch sinh thái, du lịch tâm linh ngày càng đông. Năm 2011, có khoảng 530.400 lượt khách (cả trong và ngoài tỉnh) đến tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, tổng doanh thu dịch vụ du lịch đạt 469 tỷ đồng (năm 1997 là 7,8 tỷ đồng).
Để phát triển thành phố Bạc Liêu tương xứng với vị trí tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, đồng thời để góp phần phát triển du lịch, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về xây dựng thành phố Bạc Liêu trở thành đô thị loại II, thành phố xanh - sạch - đẹp và văn minh. Nghị quyết đã tạo được sự đồng thuận, quyết tâm cao trong Đảng bộ và nhân dân thành phố Bạc Liêu cũng như của tỉnh. Nhiều phong trào hành động đã được nhân dân hưởng ứng tích cực như lách gạch vỉa hè, thu gom rác giữ vệ sinh đường phố, trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh dọc theo các tuyến phố, lập lại trật tự kinh doanh, mua bán trên vỉa hè, các khu chợ, khu du lịch, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, đặc biệt trong giao tiếp, ứng xử, mua bán, tổ chức ma chay, cưới hỏi... Chính nhờ những phong trào hành động thiết thực đó, cùng với sự đầu tư đúng mức của tỉnh, bộ mặt thành phố Bạc Liêu đã dần trở nên khang trang, sạch đẹp hơn, trật tự đô thị ngày càng tốt hơn, văn hóa ứng xử của người dân ngày càng văn minh, lịch thiệp hơn.
Để có đủ nguồn tài chính phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, Tỉnh ủy chủ trương tích cực tăng cường công tác đối ngoại, tranh thủ nguồn vốn từ Trung ương và các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước, đồng thời tích cực cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn từ các doanh nghiệp đầu tư vào các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh. Chính vì vậy, chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh không ngừng tăng lên, đặc biệt năm 2010, chỉ số cạnh tranh của tỉnh tăng 29 bậc (từ vị trí 59 tăng lên vị trí 30). Toàn tỉnh hiện có trên 900 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký trên 6.328 tỷ đồng, tăng gấp hơn 9 lần về số lượng doanh nghiệp so với năm 1997.
Chính nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn và những kết quả đạt được trên từng lĩnh vực kinh tế nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn ở mức cao, quy mô và tiềm lực nền kinh tế đã có sự phát triển vượt bậc so với khi tỉnh mới được tái lập. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh năm 2011 đạt 9.826 tỷ đồng, tăng gấp 5,9 lần so với năm 1997 (1.660 tỷ đồng). Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 24.966.000 đồng (tương đương 1.123 USD), tăng 4,5 lần so với năm 1997 (249,7 USD). Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2011 đạt 1.484 tỷ đồng, trong đó thu trong cân đối là 871 tỷ đồng, gấp gần 7 lần năm 1997.
Song song với việc đề ra và triển khai có kết quả những chủ trương, quyết sách đúng đắn trên lĩnh vực kinh tế, trong suốt 15 năm qua, Tỉnh ủy cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường... và đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt, nhất quán, đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được coi trọng và phát huy hiệu quả. Đội ngũ giáo viên vừa tăng về số lượng và chất lượng; được đào tạo bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ. Chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh ngày càng được nâng lên, phần lớn đều đạt hạnh kiểm tốt. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đã phản ánh được chất lượng giảng dạy ở các trường trung học phổ thông của tỉnh ngày càng nâng cao (năm học 1997 - 1998 tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 41,23%, năm 2010-2011 đạt 97,75%). Cơ sở vật chất trường học được tăng cường; năm 1997 có 63,6% phòng học cấp 4, đến nay đã xây dựng kiên cố thay thế toàn bộ các điểm trường bằng cây lá tạm, 100% các phòng học đều từ cấp 4 trở lên. Hiện nay, toàn tỉnh có 319 trường học các cấp với 5.302 phòng học (năm 1997 có 220 trường với 2.453 phòng học), 17,2% trường đạt chuẩn quốc gia. Giáo dục thường xuyên, chuyên nghiệp, dạy nghề được quan tâm hơn nhằm từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Hiện nay tỉnh có 01 trường đại học, 02 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp chuyên nghiệp; tổng số sinh viên, học viên khoảng 8.700 người (riêng trường Đại học Bạc Liêu là 5.700 người), tuyển mới hàng năm trên 2.500 người. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ngày càng được mở rộng, tất cả các huyện đều có trung tâm dạy nghề, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã tích cực tham gia truyền nghề, bồi dưỡng nghề cho người lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo, dạy nghề đã tăng từ 15% lên trên 35%. Năm 1998, tỉnh được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học; năm 2008, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Công tác nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ được đẩy mạnh, đã góp phần rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhiều đề tài ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, nhất là các đề tài phục vụ sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Các ngành, các cấp, doanh nghiệp và nhân dân ngày càng quan tâm hơn đến việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được cải thiện, cơ sở vật chất, thiết bị y tế được quan tâm đầu tư; mạng lưới y tế các cấp được củng cố, tăng cường, 93,75% (60/64) trạm y tế trong tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên đảm bảo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Cơ sở bệnh viện được đầu tư, nâng cấp, đã đầu tư xây dựng mới bệnh viện đa khoa tỉnh, đầu tư nâng cấp mở rộng các bệnh viện đa khoa huyện. Tổng số giường bệnh các bệnh viện hiện có 1.480 giường, tăng gấp 2 lần năm 1997; bình quân số giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 10 giường lên 17 giường. Số y, bác sỹ có 415 người, gấp gần 2 lần so với năm 1997. Số bác sỹ/1vạn dân tăng từ 3,2 lên 5,5. Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, công tác y tế dự phòng được thực hiện có hiệu quả, ý thức phòng bệnh của nhân dân được nâng lên đã kịp thời dập tắt các ổ dịch bệnh, không để xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Công tác xã hội hoá đầu tư phát triển lĩnh vực y tế có chuyển biến tốt, đã hình thành được một số bệnh viện ngoài công lập, công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân được tăng cường.
Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao ngày càng đa dạng, phong phú, góp phần xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân. Tỉnh đã đầu tư xây dựng, nâng cấp một số trung tâm văn hóa, thể dục - thể thao, các công trình di tích lịch sử, công trình ghi công liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ. Đến nay có 6/7 huyện, thành phố đã xây dựng được trung tâm văn hoá thể thao cấp huyện, 50/50 xã đã xây dựng nhà văn hóa và bưu điện văn hóa xã, hình thành được trung tâm sinh hoạt văn hoá, thể thao. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch vững mạnh, xây dựng nông thôn mới được quan tâm thực hiện; đã có 90,3% hộ gia đình, 90,7% khóm ấp và 3,1% số xã phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn văn hoá. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao được đẩy mạnh, số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên chiếm 19,5% dân số. Liên tục các năm 2010, 2011, tổ chức thành công các giải quần vợt quốc tế ITF và giải Judo toàn quốc, đặc biệt năm 2011, lần đầu tiên một vận động viên điền kinh của tỉnh đoạt huy chương vàng Seagames.
Công tác thông tin, truyền thông có nhiều đổi mới, thời lượng phát thanh, truyền hình và lượng phát hành các báo tăng; kịp thời thông tin, tuyên truyền phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Hoạt động thông tin truyền thông ngày càng phát triển đa dạng, chất lượng dịch vụ được nâng lên. Mạng Internet, truyền hình cáp và mạng điện thoại di động phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành và nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân.
Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các cấp các ngành đặc biệt quan tâm, xem đây là nhiệm vụ quan trọng cần tập trung chỉ đạo giải quyết nhằm giữ vững ổn định xã hội, hạn chế tình trạng phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp nhân dân (Năm 1997, toàn tỉnh có 31.818 hộ nghèo theo tiêu chí cũ, chiếm 21,59% tổng số hộ). Trong những năm qua, theo định hướng của Tỉnh ủy, công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội được gắn với đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh ở từng địa bàn, khu vực, đã tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ, tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi, giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. Kết quả giải quyết việc làm bình quân hàng năm đạt trên 15.000 người; tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm từ 2 đến 3%, đến nay còn khoảng 16,1% (theo tiêu chí mới). Công tác đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm, các chủ trương, chính sách được triển khai thực hiện kịp thời, góp phần ổn định đời sống xã hội. Tỉnh đã thực hiện khá tốt chính sách về nhà ở cho hộ nghèo, nhà ở xã hội, nhà cho người có thu nhập thấp, nhà cho người nghèo theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ; đến nay đã xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng 5.985 căn nhà cho hộ nghèo, đạt 100% chỉ tiêu đề ra, với tổng vốn đầu tư gần 112,6 tỷ đồng.
Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với nước được toàn xã hội quan tâm. Huy động quỹ đền ơn đáp nghĩa bình quân hàng năm đạt khá, đã cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nhà tình nghĩa cho thương binh, gia đình liệt sỹ có hoàn cảnh khó khăn; đời sống các đối tượng chính sách được đảm bảo.
Công tác quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên và phòng, chống thiên tai được thực hiện có hiệu quả; đã tập trung vào các công tác bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ rừng, kiểm tra xử lý các vi phạm về môi trường. Công tác phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn được triển khai thực hiện kịp thời, kiên quyết, hạn chế thấp nhất thiệt hại.
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định. Lực lượng vũ trang được xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc.
Công tác quốc phòng - an ninh luôn được Tỉnh ủy, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Từ đó, quốc phòng - an ninh của tỉnh trong thời gian qua luôn được giữ vững. Từng bước kết hợp có hiệu quả việc phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh. Từ đó tiềm lực quốc phòng - an ninh của tỉnh Bạc Liêu không ngừng được củng cố, tăng cường tạo nên thế và lực mới để bảo vệ và xây dựng đất nước, địa phương. Tỉnh ủy luôn quan tâm đến công tác tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, chú trọng xây dựng lực lượng thường trực đủ biên chế, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, chất lượng, phù hợp với điều kiện của địa phương. Công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hội thi, hội thao luôn được quan tâm đúng mức, từ đó trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo trên địa bàn.
An ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo. Đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào phong trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự. Từ đó, công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi. Chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự được đảm bảo, thực hiện đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ phục vụ nhiệm vụ chính trị theo chức năng. Trên lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự an toàn xã hội, lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã điều tra khám phá nhiều vụ án; điển hình năm 2011, ngăn chặn, bắt toàn bộ băng tội phạm có vũ trang tổ chức theo kiểu xã hội đen được Bộ Công an điển hình cả nước. Công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông có sự chuyển biến tích cực; ý thức chấp hành Luật giao thông của người tham gia giao thông được nâng lên, tai nạn giao thông giảm cả về số vụ, số người chết và số người bị thương.
Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đạt kết quả khá toàn diện. Cấp ủy, chính quyền các cấp chú trọng hơn công tác xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, đổi mới hoạt động, tăng cường cơ sở vật chất và quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn cán bộ các cơ quan tư pháp. Chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, vụ việc dân sự được nâng lên. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt nhiều kết quả. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, hòa giải cơ sở đạt được nhiều tiến bộ. Các cơ quan tư pháp tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; tỷ lệ giải quyết án được nâng lên; tập trung sắp xếp, củng cố tổ chức bộ máy và kiện toàn đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp. Hoạt động tư pháp có sự chuyển biến khá rõ nét, tỷ lệ điều tra phá án hàng năm đạt trên 63,19%; làm tốt công tác vận động đầu thú và truy bắt đối tượng truy nã.
Bên cạnh những chủ trương, chính sách lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,... 15 năm qua, Tỉnh ủy rất quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Chính nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy nên năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được tăng cường, tình hình tư tưởng chính trị trong Đảng bộ ổn định; các cấp ủy đảng rất quan tâm và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị, tạo sự chuyển biến về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân. Tư tưởng xã hội ổn định, đoàn kết nhất trí trong nội bộ được củng cố, sự đồng thuận trong xã hội về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được nâng cao.
Hệ thống chính trị không ngừng được củng cố, kiện toàn, nâng lên về hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Công tác cán bộ được quan tâm lãnh đạo chặt chẽ. Quy trình công tác cán bộ có nhiều đổi mới theo hướng dân chủ, công khai; đảm bảo giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Phẩm chất chính trị, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ công chức được nâng lên. Qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tỉnh nói riêng. Hệ thống tổ chức cơ sở đảng phát triển nhanh, chất lượng, hiệu quả hoạt động tăng lên; phát huy tốt hơn vai trò hạt nhân chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Tổ chức cơ sở đảng từ 217 nay tăng lên 419; tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh từ 8,66% tăng lên 82,81%. Số lượng đảng viên tăng nhanh, từ 7.097 đồng chí nay tăng lên 18.328 người. Đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng. Công tác kiểm tra giám sát được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Thường xuyên chú trọng và thực hiện đổi mới có hiệu quả phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng; lề lối làm việc của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên tiếp tục được cải tiến; phong cách lãnh đạo được đổi mới theo hướng gần dân, sát cơ sở và nâng cao trách nhiệm đối với dân. Thực hiện tốt chủ trương của Tỉnh ủy về phối hợp, hỗ trợ giữa các ngành cấp tỉnh, cấp huyện với cơ sở, bước đầu đã góp phần tạo sự chuyển biến toàn diện cho cơ sở, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên nắm bắt thực tiễn, xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, khắc phục dần tình trạng quan liêu, xa rời thực tế, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở thông qua hoạt động thực tiễn.
Hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền được nâng lên. Hội đồng nhân dân các cấp được kiện toàn tổ chức, hoạt động nề nếp và tập trung thực hiện tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật; đồng thời, tăng cường hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, đề xuất chủ trương, giải pháp, kiến nghị các cấp, các ngành liên quan khắc phục, xử lý những mặt còn hạn chế, yếu kém kịp thời và có hiệu quả.
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện công tác quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng; kịp thời cụ thể hóa và chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai thực hiện chủ trương của Trung ương và của tỉnh phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương; tập trung điều hành nhiệm vụ kinh tế - xã hội; tăng cường công tác kiểm tra và đôn đốc các cấp chính quyền, các sở, ngành khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh, đi sâu, đi sát cơ sở, tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Công tác cải cách hành chính Nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh, thực hiện một cửa, một cửa liên thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, công dân đến quan hệ công tác; trật tự, kỷ cương hành chính trong bộ máy quản lý Nhà nước được tăng cường; dân chủ cơ sở tiếp tục được phát huy.
Quy chế dân chủ cơ sở được thực hiện khá tốt, quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng, phát huy. Sự phối hợp giữa chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể có nhiều tiến bộ. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm được chỉ đạo tích cực, đạt kết quả bước đầu, đã phát hiện và xử lý một số vụ việc tham nhũng. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong tỉnh phát huy vai trò, vị trí, từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động phù hợp, đóng góp quan trọng vào công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác vận động nhân dân của các tổ chức trong hệ thống chính trị có chuyển biến tích cực; ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức được nâng lên.
Như vậy, 15 năm qua kể từ ngày tái lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã nỗ lực, quyết tâm cao, đạt được những thành tựu rất quan trọng và toàn diện. Kinh tế phát triển nhanh, văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ; kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng làm tăng tiềm lực và tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, đời sống của nhân dân tiếp tục cải thiện. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác phòng, chống tham nhũng đạt kết quả. Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được triển khai nghiêm túc, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền ngày càng được nâng cao. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được phát huy, nhân dân đoàn kết, đồng lòng chung tay xây dựng quê hương, đất nước. Những thành tựu đó là rất quan trọng, toàn diện, có ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển, đi lên của tỉnh nhà.
Những thành tựu đạt được trong 15 năm tái lập tỉnh cho thấy khi nào Đảng bộ có chủ trương đúng, hợp lòng dân thì tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực sẽ được khơi dậy và phát huy đúng mức. Những thành tựu đó đã và đang làm cho bộ mặt quê hương Bạc Liêu ngày thêm khởi sắc, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt, lòng tin của nhân dân đối với Đảng bộ không ngừng được củng cố. Đó là những tiền đề quan trọng tạo động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của tỉnh trong thời gian tới.
Những thành tựu và kinh nghiệm của 15 năm kể từ khi tái lập tỉnh cho đến nay sẽ tạo ra cho tỉnh ta thế và lực lớn hơn nhiều so với trước. Thời gian từ đây cho đến năm 2015 và những năm tiếp theo sẽ là giai đoạn phát triển mạnh của tỉnh. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn rất lớn, nhất là chất lượng nguồn nhân lực kém, trình độ, sự năng động và tâm huyết của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; nhu cầu đầu tư phát triển của tỉnh rất lớn nhưng khả năng cân đối vốn của ngân sách có hạn; kết cấu hạ tầng giao thông tuy đã được quan tâm đầu tư, nhưng còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; những diễn biến phức tạp về dịch bệnh và tình trạng biến đổi khí hậu, tình hình lạm phát tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn còn ở mức cao,... đang là những thách thức lớn đối với sự phát triển của tỉnh trong thời gian tới.
Trước những khó khăn, thách thức nêu trên, đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu phải tiếp tục đoàn kết, đoàn kết nhiều hơn nữa, cùng đồng cam cộng khổ, phấn đấu đạt được mục tiêu, phương hướng mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra cho nhiệm kỳ tới là: “Đầu tư khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là kinh tế biển, du lịch, sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh phát triển công nghiệp, đặc biệt là những dự án trọng điểm để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; không ngừng nâng cao dời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là khu vực nông thôn; đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tập trung xây dựng nông thôn mới; xây dựng thành phố Bạc Liêu trở thành đô thị loại II, xây dựng huyện Đông Hải từng bước trở thành trọng điểm kinh tế của tỉnh. Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ Bạc Liêu có vị trí xứng đáng trong khu vực và cả nước”, với những chỉ tiêu quan trọng như: tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân hàng năm 13,5%; chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, đến năm 2015 giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp còn 36,4%; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.100USD; có 26% số xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới; tỷ lệ lao động qua đào tạo, dạy nghề đạt 45%; giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm từ 2-3%;...
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, phương hướng nêu trên, các cấp ủy đảng, chính quyền mà trước hết là Tỉnh ủy, UBND tỉnh phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy trí tuệ tập thể, kiên trì thực hiện đến cùng những quyết sách đúng đắn đã đề ra; linh hoạt, nhạy bén trước những cái mới, phải tiếp tục nâng cao hiệu lực lãnh đạo, quản lý của Đảng bộ và chính quyền, đoàn thể các cấp; tập trung phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng, khuyến khích phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn; phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, từng bước cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp; tập trung đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; tăng cường liên kết kinh tế vùng, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập; nâng cao chất lượng các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá xã hội; phát huy dân chủ, xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân. Tiếp tục huy động nguồn lực làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Với tiềm năng kinh tế sẵn có, nền tảng văn hóa giàu bản sắc, bề dầy truyền thống cách mạng, cùng với sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự đoàn kết, quyết tâm của toàn Đảng bộ, quân và dân, tin chắc rằng tỉnh Bạc Liêu không ngừng vươn lên mạnh mẽ trong thời gian tới, sánh vai cùng các tỉnh thành khác trong khu vực và cả nước trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu